Bài viết

Tại sao tôi chọn pháp môn Tịnh Độ và phương pháp hành trì?

Cập nhật: 16/11/2018
“Chẳng biết rong chơi miền Tịnh Độ / Làm người một kiếp cũng như không”
 

Tại sao tôi chọn pháp môn Tịnh Độ và phương pháp hành trì?

 

Trong kinh Pháp Hoa đức Phật đã dạy: “Ngài sinh ra đời vì một đại sự nhân duyên là khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến”. Do đó với mục đích chỉ cho chúng sinh thấy con đường thoát khổ, thì tất cả tám vạn bốn ngàn pháp môn của Ngài đều nhắm vào mục đích duy nhất đó thôi, nên dù theo pháp môn nào thì cũng vẫn có thể quy vào một mối là con đường giải thoát. Hiển nhiên tùy khả năng của chúng sinh mà mỗi người thích hợp với một pháp môn nào đó, nhưng vào thời mạt pháp có nhiều chướng ngại, theo tôi pháp môn thích hợp nhất là Tịnh Độ. Tại sao ư? Hay tại vì tôi tu theo pháp môn này nên nói vậy?

Các bạn mến! Vào thời Chánh pháp, khi đức Phật còn tại thế đi thuyết pháp độ sinh thì gần như ngàn người tu cả ngàn người đều ngộ. Vào thời Tượng pháp, sau khi đức Phật đã nhập diệt nhưng vẫn còn các đại đệ tử của Ngài đích thân chỉ dạy thì ngàn người tu cũng có đến trăm người ngộ. Đến thời kỳ Mạt pháp, các bậc thiện tri thức không còn bao nhiêu mà chúng sinh thì hung hăng khó dạy, nhiều tham lam sân hận; lại thêm tà đạo phát triển, phá hoại giáo pháp chân chính khiến tinh hoa Phật pháp bị thất truyền hoặc bị hiểu sai lạc; đời người thì ngắn mà phiền não lại nhiều, chúng sinh bị lôi cuốn theo dục vọng, hành động theo sự chi phối của tham, sân, si nên tu hành khó có kết quả được.

Do đó vào thời Mạt pháp, ngàn kẻ tu chỉ vài người ngộ. Biết chúng sinh thời kỳ này thường u mê, thiếu sáng suốt nên đức Phật đã truyền dạy pháp môn Tịnh Độ, nhằm tìm về sự tỉnh thức trong nội tâm và góp phần xây dựng một thế giới an lạc, hạnh phúc ngay trong đời sống hiện tại. Các bạn có thể nghiên cứu nhiều pháp môn như Thiền, Tịnh, Mật xem con đường nào thích hợp mà theo, hoặc có thể kết hợp cả hai hay ba lối nhưng nếu thế cần lấy Tịnh làm chủ. Cả hai pháp môn Thiền và Mật đều cần phải có thầy dìu dắt, hướng dẫn; nếu không có duyên gặp bậc thiện tri thức thì khó hiểu thấu đáo và tròn đạo quả. Trong khi đó, một người bình thường không nghiên cứu kinh luận sâu xa, chỉ một lòng làm lành lánh dữ, nhờ chí tâm chí thành mà có thể giao cảm được với sự nhiệm mầu nên được giải thoát. Xét như thế thì thấy pháp môn này mầu nhiệm và hiệu nghiệm biết bao! Ngoài ra không phải chỉ khi hành lễ ta mới giữ cho sáu căn, ba nghiệp được thanh tịnh, mà lúc nào ta cũng có thể ý thức và làm chủ được nó trong mọi hoàn cảnh nữa. Phải làm sao để cử chỉ, lời nói đều trang nghiêm, thanh tịnh giữ tâm sáng suốt để quán tưởng về cõi Tây phương. Được thế thì có khác gì trạng thái ung dung tự tại của người tu Thiền đâu? Nói một cách khác, trong Tịnh bao gồm cả Thiền lẫn Mật, bao gồm cả tự lực lẫn tha lực, vừa ý thức hành vi cử chỉ của mình, vừa tha thiết niệm hồng danh Phật để cầu vãng sanh. Đó chính là điểm then chốt mà mọi người cần phải để ý cho kỹ. Các bạn nên biết pháp môn này do chính đức Phật nói ra, chư Phật mười phương đều tán thán, các Bồ-tát đều thành kính tu trì. Đức Di Lặc chỉ còn một kiếp nữa sẽ thành Phật mà còn ngày đêm sáu thời hành lễ thì đủ hiểu tầm quan trọng và công năng của pháp môn này như thế nào rồi. Những ai đang tu pháp môn Tịnh Độ, mà không nắm vững các quy tắc căn bản của Tịnh Độ, không ý thức việc nghiêm trì sáu căn, ba nghiệp thì dù có đọc tụng thiên kinh vạn quyển cũng chẳng ích lợi bao nhiêu. Nhiều người cho rằng tu Tịnh Độ chỉ trông nhờ vào tha lực tiếp dẫn là một thiếu sót. Tịnh Độ bao gồm cả tự lực lẫn tha lực, thiếu tự lực thì không thể được nhất tâm, không nhất tâm thì làm sao chiêu cảm được với chân tâm của chư Phật. Một số người niệm Phật để cầu phước hay để xin xỏ này nọ là tham lam, mà đã tham lam thì làm sao có kết quả được!Người tu Tịnh Độ phải luôn hướng đến sự an lạc, hạnh phúc ở hiện đời cũng như những kiếp vị lai. Nhân đây, tôi xin trình bày chi tiết một phương pháp thực tập căn bản tối quan trọng của Tịnh Độ về việc nghiêm trì sáu căn, ba nghiệp cho thanh tịnh để được nhất tâm trong lúc niệm Phật. Sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Khi hành lễ phải biết giữ sao cho mắt đừng nhìn ngang nhìn ngửa vì ngoại cảnh lọt vào mắt dễ làm cho tâm sinh loạn tưởng. Phải làm chủ con mắt, chỉ chăm chú nhìn lên tượng Phật hoặc giữ gìn hình ảnh của đức Phật trong tâm mà thôi. Nhiều người tuy miệng niệm Phật mà mắt vẫn nhìn quanh rồi sinh tâm vọng động, nghĩ ngợi lo lắng đủ thứ thì làm sao có thể nhất tâm cho được! Khi hành lễ phải biết chú tâm vào những câu kinh, tai phải nghe thật rõ từng câu, từng chữ, từng danh hiệu Phật. Niệm đến đâu phải biết đến đó, niệm một câu biết một câu, niệm mười câu biết mười câu chứ không lẫn lộn hoặc lầm lạc. Phải biết chuyên chú niệm Phật, đừng để cho tai nghe những tiếng động khác chung quanh mà làm cho tâm ý vọng động. Cũng tương tự như thế phải hoàn toàn làm chủ các căn thức khác như mũi, lưỡi, thân, ý không cho chúng lọt ra ngoài sự kiểm soát của tâm, không còn loạn tưởng, không còn vọng động thì đó chính là Chánh Niệm rồi. Chánh Niệm khi tu Tịnh Độ có khác gì an tâm lúc tu Thiền đâu. Ba nghiệp là Thân, Khẩu và Ý. Phải biết khắc phục Thân nghiệp, khi hành lễ phải giữ thân thể ngay ngắn, ngồi thẳng lưng, đứng lên ngồi xuống phải vững chắc đừng xiêu vẹo. Khi lạy xuống phải giữ cho đầu, hai tay, hai chân sát xuống đất (ngũ thể đầu địa) thật cung kính. Dĩ nhiên điều này đòi hỏi công phu thực tập chuyên cần không khác công phu thiền tọa của Thiền tông bao nhiêu. Phải biết khắc phục khẩu nghiệp bằng cách sử dụng miệng lưỡi để tán thán công đức Tam Bảo, đọc tụng kinh chú một cách thành kính, nghiêm trang, không ngừng nghĩ. Phải tập thói quen chỉ dùng miệng lưỡi để nói những điều lành, lợi ích cho muôn loài chúng sanh mà thôi. Trong lúc hành lễ, không được nói chuyện gì khác mà chỉ chuyên tâm niệm Phật. Phải biết khắc phục Ý nghiệp, phải tập trung tư tưởng, chí tâm chí thành, không vọng tưởng hay xin xỏ điều gì. Các bạn nên nhớ, các nghiệp chướng vẫn tích tụ trong tâm, khi lễ Phật, tâm yên tĩnh nó sẽ phát động, nảy sinh biết bao ý tưởng triền miên, hết điều này đến điều khác, ngăn trở công phu luyện tập. Trong ba nghiệp thì Ý nghiệp nặng nhất, ít ai có thể kiểm soát được nên người hành lễ phải trông nhờ vào tha lực của chư Phật hộ trì cho. Thay vì để cho tâm điên đảo, vọng tưởng, nghĩ ngợi lung tung, người hành lễ phải chí tâm chí thành niệm danh hiệu Phật A Di Đà. Oai lực của sáu chữ hồng danh rất lớn, bất khả tư nghì, nếu người tu nhất tâm trì tụng có thể khắc phục được Ý nghiệp. Khi ba nghiệp thanh tịnh, sáu căn thâu nhiếp được nhất tâm thì trí tuệ sẽ sáng suốt và chắc chắn được vãng sanh về cõi Tây phương Cực Lạc. Nam mô A-di-đà Phật!

Tâm Thoại

Tin tức liên quan

Thiền giúp ta hướng thiện, hướng thượng
22/05/2022
Hưng suy do tâm người
21/05/2022
Ra mắt bộ sách mới: “Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Giảng Luận” – Bốn phương pháp nhận diện và chuyển hóa thân tâm
15/05/2022
Nguyện xưa viên mãn đời này đản sanh
14/05/2022
May mắn được gặp Phật
14/05/2022