Bài viết

Đẹp thay nhân cách cao thượng

Cập nhật: 04/04/2024
 

Đẹp thay nhân cách cao thượng

 
  1. Khái quát về Tứ Vô Lượng Tâm

Tứ vô lượng tâm đã được Đức Phật dạy như sau:

Từ: Tình thương sẻ chia hay lòng nhân ái (metta).

Bi: Lòng bi mẫn xót thương (karuṇā).

Hỷ: Niềm vui của sự cảm thông (muditā).

Xả: Sự bình thản tâm trí (upekkhā).

Trong tiếng Pāḷi – một ngôn ngữ trong kinh điển Phật giáo, Tứ Vô Lượng Tâm được biết đến dưới cái tên Brahma-vihāra (Phạm trú). Bạn có thể hiểu thuật ngữ này theo nghĩa là những trạng thái tâm tuyệt vời, cao thượng hoặc vô lượng; nói theo cách khác, bạn sẽ có những trạng thái như ở nơi Thiên đường, hay các cõi trời, hay là cộng trú với chư Thiên, Phạm Thiên.

Tứ Vô Lượng Tâm thể hiện được sự thánh thiện và cao thượng trong phẩm cách của một con người. Vì đây là cách mà bạn ứng xử dễ thương, “đắc nhân tâm” đối với hết thảy mọi người, mọi loài. Trên thực tế, Tứ Vô Lượng Tâm hiến tặng những phương pháp hữu hiệu để “dàn xếp” mọi tình huống không hay phát sinh trong quan hệ xã hội. Từ – Bi – Hỷ – Xả nếu được nhân cách hóa, bạn sẽ hiểu bốn phẩm chất này như bốn người anh hùng vĩ đại. “Họ” đến cuộc đời này để giải trừ những căng thẳng và mang lại hòa bình tuyệt đối trong bất kỳ sự xung đột nào; đồng thời, cũng giúp chữa lành vết thương một cách tuyệt vời nhất sau mọi chiến tích giữa người và người với nhau. Từ – Bi – Hỷ – Xả giúp xóa đi mọi rào cản xã hội, kiến tạo cộng đồng hòa hợp, đánh thức sự cao thượng đang ngủ quên từ lâu trong bạn, làm sống lại niềm vui và hy vọng bị bỏ rơi từ khi nảo khi nao và hơn hết, là thúc đẩy tình huynh đệ đồng lòng đương đầu với các thế lực vị kỷ cá nhân.

Có mặt Tứ Vô Lượng Tâm thì không thể hiện diện sự tham lam, sân hận, si mê. Trong bức tranh vũ trụ truyền thống của Phật giáo, có một số vị Thiên cai trị các tầng trời cũng có Từ – Bi – Hỷ – Xả nhưng vẫn chưa phải hoàn toàn, kể cả các cõi trời cao hơn. Ngược lại điều trên, với nhiều quan niệm thần thoại Đông Tây, một số tín đồ của một số nơi có thể sợ hãi trước sự tức giận, ghen tị và “sự phẫn nộ chính đáng” của thần linh. Phật giáo thì không thế! Tứ Vô Lượng Tâm giải thoát bạn khỏi trạng thái phẫn uất; người nào siêng năng phát triển Từ – Bi – Hỷ – Xả bằng giới hạnh và thiền định thì người đó được coi là ngang hàng với Phạm Thiên (Brahma-samo). Bởi vì Từ – Bi – Hỷ – Xả phát khởi và tràn ngập trong bạn, bạn sẽ tái sinh vào những cảnh giới thích hợp, như cõi Phạm Thiên chẳng hạn. Vì vậy, những trạng thái tâm này được gọi là giống như Thượng Đế, giống như Phạm Thiên.

Tứ Vô Lượng Tâm còn có bổn phận là an trú (vihāra). Chính là vì bốn trạng thái này phải trở thành nơi thường trú cho tâm trí, mang lại cho bạn cảm giác an toàn “như ở nhà”; và bốn tâm này không để cho ngôi nhà tâm linh của bạn trở thành nơi cô quạnh, hiu hắt, bằng không sẽ sớm bị quên lãng. Mặt khác, tâm trí bạn sẽ hoàn toàn được cân bằng nhờ vào Từ – Bi – Hỷ – Xả. Đây đích thực là người bạn đồng hành không thể tách rời của bạn và bạn nên lưu tâm trong mọi hoạt động thường nhật. Như Kinh Từ Bi – Bài Ca về Lòng Từ có đoạn:

Khi đi, đứng, ngồi, nằm

Bao giờ còn thức tỉnh

Giữ niệm từ bi này

Thân tâm thường thanh tịnh

Phạm hạnh chính là đây.

Từ – Bi – Hỷ – Xả còn được gọi là các trạng thái vô biên (appamaññā), cũng vì tính chất hoàn hảo được kiến tạo từ chính sự chân thật nên bốn tâm ấy không bị thu hẹp bởi bất kỳ giới hạn nào về phạm vi không gian hay thời gian chúng sinh mà Tứ Vô Lượng Tâm hướng tới (biến mãn). Từ – Bi – Hỷ – Xả không phải độc quyền của Phật giáo. Một sự trong sáng khôn cùng, dĩ nhiên là không bị ràng buộc sự lạm quyền, ưu tiên hay một thành kiến cá nhân nào. Tâm trí một khi đã đạt đến sự vô biên của trạng thái Phạm Trú, sẽ không còn nuôi dưỡng bất kỳ hận thù quốc gia, chủng tộc, tôn giáo hay giai cấp nào nữa.

Tứ Vô Lượng Tâm chỉ được khơi dậy bằng tâm hồn thánh thiện, trong sạch và uyên nguyên. Nếu không phải thế, chắc chắn bạn sẽ không dễ dàng chế tác được các tâm sở vô biên đó bằng đơn thuần nỗ lực ý chí và hơn hết, không nên để bất kỳ sự thiên vị ai hay tình cảm cá nhân nào chen vô đây. Chứng nghiệm điều này trong hầu hết các trường hợp, bạn sẽ phải áp dụng Tứ Vô Lượng Tâm không chỉ như những nguyên tắc ứng xử cộng đồng và sự chiêm nghiệm triết lý, mà chính xác phải là những đề mục thiền định có phương pháp. Thiền định đó được gọi là Brahma-vihāra-bhāvanā – sự tu tập thiền định nơi các trạng thái tâm vô lượng và siêu phàm. Với sự trợ giúp của những trạng thái siêu phàm này, mục đích thực tế là đạt được những giai đoạn tập trung tinh thần cao độ và được gọi là jhāna – thiền. Mỗi đề mục thiền về Từ, Bi và Hỷ có thể đưa đến đạt được ba tầng thiền đầu tiên (Sơ thiền – Nhị thiền – Tam thiền); trong khi đó, thiền về Xả sẽ chỉ đưa đến jhāna thứ tư (Tứ thiền), trong đó Xả (sự bình thản tâm trí) là yếu tố quan trọng nhất.

Chung quy, miên mật thiền tập sẽ mang lại hai kết quả đỉnh cao: thứ nhất, làm cho Tứ Vô Lượng Tâm thấm sâu vào bạn và trở thành một phản xạ vô điều kiện, không thể bị lung lay trong con người bạn. Thứ hai, các trạng thái tâm thiện của bạn sẽ ngày càng nảy nở, bao trùm và mở rộng cùng khắp cõi không gian và thời gian. Thực ra, những hướng dẫn chi tiết được đưa ra trong kinh điển Phật giáo về việc thực hành thiền Tứ Vô Lượng Tâm này rõ ràng là nhằm mục đích khai mở dần dần tính vô biên của các trạng thái tâm siêu phàm. Mọi rào cản vị kỷ về một cá nhân hay một địa điểm hay một hạn cuộc sẽ được phá bỏ một cách tuần tự khi tu tập thiền Tứ Vô Lượng Tâm.

Khi thiền tập về Tứ Vô Lượng Tâm, việc lựa chọn đối tượng hướng đến thường tiến hành từ dễ đến khó. Ví dụ, khi thiền về Tâm Từ, bạn bắt đầu với ước nguyện hạnh phúc cho chính mình, áp dụng như một khuôn mẫu để mở rộng dần dần: “Giống như tôi mong muốn được hạnh phúc và thoát khỏi đau khổ, cầu mong chúng sinh đó cũng vậy, cầu mong tất cả chúng sinh được hạnh phúc và thoát khỏi khổ đau!”. Sau đó, bạn mở rộng Tâm Từ đến một người mà ta có lòng kính trọng, chẳng hạn như một vị thầy; rồi đến những người thân yêu, đến những người xã giao và cuối cùng là kẻ thù, nếu có, hoặc những người bị ghét. Vì thiền này liên quan đến phúc lợi cho người sống, do đó bạn không nên chọn người đã chết; bạn cũng tránh chọn những người mà bạn có cảm giác bị hấp dẫn về mặt tình dục.

Sau khi “hoàn tất” nhiệm vụ khó khăn nhất là hướng Tâm Từ đến những người bất đồng ý kiến, bây giờ bạn nên “phá bỏ các rào cản” (sīmā-sambheda). Không phân biệt bốn loại người này và bạn mở rộng Tâm Từ đến họ một cách bình đẳng. Ở thời điểm thực hành đó, bạn sẽ đạt đến các giai đoạn thiền định cao hơn: với sự xuất hiện của hình ảnh phản chiếu tâm trí – tợ tướng (paṭibhāga nimitta), sự tập trung gần như ổn định – cận định (upacāra samādhi) sẽ đạt được, và tiến bộ hơn nữa sẽ dẫn đến sự tập trung hoàn toàn – an chỉ định (appanā samādhi) của jhāna đầu tiên, sau đó là các jhāna cao hơn.

Để mở rộng không gian, việc thực hành bắt đầu với những người trong môi trường trực tiếp như gia đình của bạn, sau đó mở rộng sang những ngôi nhà lân cận, toàn bộ đường phố, thị trấn, đất nước, các quốc gia khác và toàn bộ thế giới. Trong “sự lan tỏa khắp các phương” (biến mãn), Tâm Từ của bạn trước tiên hướng về phương đông, sau đó đến phương tây, phương bắc, phương nam, các phương trung gian, phương trên cùng và phương thấp nhất.

Những phương pháp thiền tập tương tự về Tâm Bi, Tâm Hỷ, Tâm Xả sẽ có những sai biệt trong việc lựa chọn đối tượng mà bạn muốn trải tâm vô lượng. Chi tiết về việc thiền tập, bạn có thể xem trong Thanh Tịnh Đạo Luận (Visuddhimagga), Chương IX.

Mục đích cuối cùng của việc đạt các thiền Tứ Vô Lượng Tâm này là để kiến tạo ra một trạng thái tâm làm nền tảng vững chắc cho tuệ giác giải thoát, từ đó thấy ra bản chất thực sự của mọi hiện tượng là vô thường, khổ và vô ngã. Một tâm trí đạt được thiền định nhờ tu tập Tứ Vô Lượng Tâm sẽ chế tác ra sự trong lành, tĩnh lặng, vững chãi, tự tại và thảnh thơi, xa lìa khỏi tính ích kỷ thô thiển. Do đó, Tứ Vô Lượng Tâm hoàn bị cho sự giải thoát cuối cùng, vốn được chứng nghiệm bằng tuệ giác.

Những nghiên cứu trước đây cho thấy có hai cách để phát triển Tứ Vô Lượng Tâm: thứ nhất, bằng hành vi thực tế và tư duy thích hợp; thứ hai là bằng phương pháp thiền định chứng đạt vào các tầng thiền. Cả hai ý kiến này hỗ tương cho nhau. Thực hành thiền định có phương pháp sẽ giúp Từ – Bi – Hỷ – Xả trở nên tự nhiên; sẽ giúp tâm trí vững chãi và thảnh thơi hơn trước vô số điều bất toại trong cuộc sống đầy gian nan, bắt buộc chúng ta phải duy trì Tứ Vô Lượng Tâm trong suy nghĩ, lời nói và hành động thì mới có được sự bình an.

Mặt khác, nếu hành vi thực tế của một người ngày càng thấm nhuần Tứ Vô Lượng Tâm thì tâm trí sẽ ít oán giận, căng thẳng và khó chịu, vì những âm vang của phiền não thường xâm nhập, len lỏi tinh vi vào những giờ thiền tập của bạn và tạo ra năm sự chướng ngại ngăn che –  “ngũ triền cái”(dục, sân, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, nghi). Sinh hoạt thường nhật và suy nghĩ hàng ngày của bạn có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc thiền tập; chỉ khi nào khoảng cách giữa hai cái ấy được liên tục thu hẹp, thì bạn mới có cơ hội tiến bộ đều đặn và đạt được mục tiêu cao nhất trong việc thiền tập.

Sự tiến bộ trong tu tập Tứ Vô Lượng Tâm sẽ được vun bồi nhờ vào việc bạn thường xuyên suy niệm về những phẩm chất trong sạch của tâm, về những lợi ích do tu tập mang lại và quán chiếu những nguy hiểm từ phẩm chất đối nghịch của Tứ Vô Lượng Tâm. Như Đức Phật dạy cho vua Mahānāma: “Điều gì mà một người tư duy và suy niệm trong thời gian dài, tâm trí của người đó sẽ được uốn cong và nghiêng về điều đó”.

  1. Trích kinh văn - Kinh Tam Minh, Trường Bộ kinh số 13

Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với Từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với Từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với Bi, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với Bi, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với Hỷ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với Hỷ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với Xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với Xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

Tâm Cung dịch

[Từ tác phẩm “The Four Sublime States” của Hòa thượng Nyanaponika Thera, phần Introduction và The Basic Passage on the Four Sublime States from the Discourses of the Buddha]

Tin tức liên quan

Người với người, sống để...
13/06/2024
Lòng Thầy - Con có hiểu?
07/06/2024
Bước ngoặt đầu đời
30/05/2024
Hạnh phúc và khổ đau
28/05/2024
Ý nghĩa sự kiện Đản sinh của đức Phật Thích Ca Mâu Ni
20/05/2024