Bài viết

Bạn đang dễ thương hơn

Cập nhật: 07/05/2019
Trong đời sống hằng ngày, chúng ta đã và đang tiếp xúc với nhiều người, có người mang đến cho bạn sự lợi ích, sự tiến bộ, sự an lạc, khiến tâm ta trở nên mát mẻ, thanh lương. Hoặc khi thấy họ, ta sẽ quý mến muốn tới gần bởi hành động, lời nói, suy nghĩ của họ rất thanh tịnh, lòng từ bi của họ có thể chiêu cảm đến tất cả chúng sinh. Và thẳm sâu trong tâm họ, các ác pháp “tham dục, sân hận, si mê” phần nào được an tịnh. Ngược lại, có những người mang đến cho bạn sự bực bội, khó chịu, không muốn đến gần và tìm cách tránh né.
 

Bạn đang dễ thương hơn

 

Trong bài kinh Tư Lượng (Anumana Sutta) thuộc kinh Trung Bộ, Tôn giả Mục-kiền-liên đã thuyết giảng cho các thầy Tỳ-kheo về mười sáu ác pháp làm cho một vị Tỳ-kheo “trở thành khó nói, đầy đủ những tánh khiến người ấy trở thành khó nói, khó kham nhẫn, làm cho người khác không muốn đến gần”. Mười sáu ác pháp đó là: “1. Có ái dục, bị ái dục chi phối; 2. Khen mình chê người; 3. Có phẫn nộ, bị phẫn nộ chi phối; 4. Phẫn nộ, vì phẫn nộ làm nhân trở thành người có hiềm hận; 5. Phẫn nộ, vì phẫn nộ làm nhân trở thành cố chấp; 6. Phẫn nộ, thốt ra những lời liên hệ đến phẫn nộ; 7. Bị buộc tội, trở lại chống đối vị đã buộc tội mình; 8. Bị buộc tội, trở lại chỉ trích vị đã buộc tội mình; 9. Bị buộc tội, trở lại chất vấn vị đã buộc tội mình; 10. Bị buộc tội, tránh vấn đề với một vấn đề khác; 11. Bị buộc tội, không giải thích thỏa mãn hành động của mình cho người buộc tội; 12. Gièm pha và não hại; 13. Tật đố và xan tham; 14. Man trá và lừa đảo; 15. Ngoan cố và quá mạn; 16. Chấp trước thế tục, cố chấp tri kiến, tánh khó hành xả”. Tôn giả đã khuyên các thầy Tỳ-kheo phải luôn quan sát tự ngã, tinh tấn đoạn trừ các ác pháp.

Bài kinh Tư Lượng là bài kinh rất quan trọng cho cả người xuất gia và tại gia. Bởi vì, người tu học Phật pháp cần nhận biết các pháp nào là thiện là ác và cố gắng tu tập hằng ngày để loại trừ chúng. Vì vậy, trong sinh hoạt hằng ngày, dù là người xuất gia hay tại gia, nếu không khéo chánh niệm giữ gìn giới luật, mà buông lung phóng túng thì sẽ khiến cho ác pháp có cơ hội khởi sinh. Khi bị ác pháp lôi kéo, sai khiến, người ấy dễ khởi tâm đố kỵ, tham lam, khen mình chê người… làm cho hội chúng ai cũng cảm thấy không hoan hỷ và muốn xa lánh.

Đối lập với ác pháp là thiện pháp. Theo lời đức Phật dạy, vị Tỳ-kheo luôn an trú trong hơi thở, lấy hơi thở làm đề mục, đi biết mình đi, làm biết mình làm, khởi tâm hoan hỷ, tinh tấn tu tập loại trừ các ác pháp kể trên, thực tập chánh niệm tỉnh thức trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi. Luôn sống với tâm niệm an lành, rải tâm từ đến với tất cả chúng sanh, ngày đêm tu tập tinh tấn trong những thiện pháp, vị ấy trở nên dễ thương và được mọi người kính quý.

Trong khuôn khổ bài viết có giới hạn nên tôi chỉ tập trung vào chứng bệnh “khen mình chê người”.

Việc “khen mình” là sống trong trạng thái tự đề cao chính mình, thổi phồng các việc làm và đẩy giá trị của mình lên; thường nói tốt về bản thân, luôn hãnh diện và tự hào cho mình là nhất, không ai hơn mình. Nhận thức sai lầm đó dẫn đến hành động không đúng và huân tập những thói quen không tốt.

Việc “chê người” được thể hiện qua các hành động như tìm sơ hở, bới móc chuyện không hay, tấn công vào điểm yếu của người, phỉ báng, tạo thử thách, gây chướng duyên, chia rẽ mọi người, xem người khác là kẻ thù, là đối thủ không đội trời chung…

Theo đạo đức học Phật giáo, chúng ta không nên khen mình, chê người. Nếu có lòng tốt, chúng ta nên góp ý chân thành với những lời chân chánh, đúng sự thật, xây dựng tinh thần cởi mở, đoàn kết và bình đẳng giữa mình với người. Chúng ta nên tùy hỷ công đức, tán dương điều hay lẽ phải, ca ngợi việc làm tốt đời đẹp đạo, đem lại lợi ích cho số đông.

Bản thân tôi, nhiều lúc vì muốn tốt cho bạn nên góp ý chân thành mong người đó tiến bộ hơn. Tuy nhiên, nếu không cẩn thận, lời nói của chúng ta có thể rơi vào căn bệnh khen mình chê người mà không hề hay biết.

Tôi được Sư Phụ cùng quý Thầy giao một số công việc thiết kế, biên tập… nên rất hào hứng và cố gắng làm việc cho thật tốt, có lúc còn bỏ cả thời gian công phu để làm cho xong. Khi làm, được quý Thầy quan tâm hỏi thăm, cảm thấy rất hạnh phúc, nhìn cái gì cũng thấy đẹp, dễ thương…

Đến khi in thành sách xong, vô cùng hoan hỷ vì bao nỗ lực, cố gắng của mình đã có kết quả. Tuy nhiên, một ngày kia, có quý Thầy đọc và phát hiện có lỗi sai, nhất là chính tả; có vài lần quý Thầy cũng góp ý chỉ bảo. Lúc đó, tôi cảm thấy rất khó chịu, tìm mọi cách ngụy biện, cho rằng lỗi này là do người biên tập nội dung, không phải do mình và tìm cách đổ thừa. Vì thế, tôi đã nghĩ và làm như vậy.

Nhìn lại câu chuyện xảy ra cách đây hơn bốn năm trước, thấy mình lúc đó đã mắc chứng bệnh “khen mình chê người” mà không hề hay biết. Vì thiếu bản lĩnh, vì “cái tôi, cái của tôi, tự ngã của tôi” quá lớn nên bản thân đã mất cơ hội được nghe những lời góp ý chân thành từ quý Thầy, thiện hữu dành cho mình. Nếu biết kham nhẫn, lắng nghe, chúng ta sẽ có phương pháp xử lý tốt theo hướng tích cực, trí tuệ hơn.

Chẳng hạn, mình sẽ tập ngồi xuống, im lặng, hít vào thở ra bằng sự ghi nhớ cẩn thận, buông thư toàn thân, tác ý khéo những lời chia sẻ của quý Thầy, lắng nghe với tâm không phân biệt. Hoặc suy nghĩ tích cực “tôi thật là may mắn hạnh phúc, được đại chúng thương, chia sẻ kinh nghiệm làm việc và tu tập”. Khi chính mình lắng nghe, chấp nhận mọi khuyết điểm, không nên vội vàng đổ lỗi cho người khác, kham nhẫn nghe thiện hữu chia sẻ để thấy được cái yếu kém của bản thân, thấy biết đúng sai của sự việc. Phải có bản lĩnh dám làm, dám chịu, sai đâu sửa đó, để mỗi ngày tu tập được tốt hơn.

Qua bài học này, tôi nhận thấy muốn loại bỏ tật xấu “khen mình chê người”, ta cần phải có sự tu tập hằng ngày, luôn cẩn thận phòng hộ, chánh niệm tỉnh thức trong từng phút giây. Căn bệnh “khen mình chê người” luôn hiện hữu trong mỗi chúng ta là tập khí từ lâu đời, đã chất chứa rất sâu dày trong tâm thức, nên không dễ gì trong thời gian ngắn mà có thể loại bỏ được. Nói như thế không có nghĩa là chúng ta không thể thay đổi, chỉ cần ta nỗ lực tu tập, sống chậm lại, giữ gìn tâm ý trong sạch trong từng cử chỉ, hành động thì ngày càng thanh tịnh và an lạc.

Vấn đề quan trọng là phải thấy rõ bản chất của các pháp đều là vô thường, khổ, vô ngã, không thật, huyễn ảo, có rồi lại không. Khen hay chê đâu có thật, chỉ là các cảm thọ sanh khởi theo quy luật sinh, trụ, dị, diệt. Muốn thấy rõ các cảm thọ, mỗi chúng ta cần phải nỗ lực tu tập thiền chỉ, thiền quán, hoặc niệm đề mục ân đức Phật, ân đức Pháp, ân đức Tăng… để tự thân chứng nghiệm được các pháp đều là giả tạm, hư ảo. Lời khen hay tiếng chê cũng chỉ giống những con sóng vỗ vào bờ, đến và đi, lên và xuống, hợp rồi tan, còn và mất, chưa một lần ngừng nghỉ, như một quy luật tất yếu của tự nhiên.

Ngoài ra, khi thấy được các pháp đều là giả tạm, chúng ta sẽ bớt không còn chạy theo ngũ dục nữa. Người nào còn chạy theo ngũ dục thì đau khổ sẽ còn quấn lấy thân tâm người ấy để rồi bị trói buộc trong sự hưởng thụ, chấp thủ, đánh mất đi mục đích, lý tưởng ban đầu của mình.

Trong kinh Di Giáo, đức Phật đã dạy: “Này các thầy Tỳ-kheo, hãy tự xoa đầu mình, đã bỏ sự trang sức và đồ tốt đẹp, mình mặc áo hoại sắc, tay cầm đồ thích ứng, khất thực để sống, tự thấy như vậy mà kiêu ngạo còn nổi lên thì phải cấp tốc tỏa chiết”. Người đời, khi giàu sang về vật chất, có địa vị trong xã hội hoặc có sắc đẹp thì họ thường mang tâm lý kiêu mạn. Còn người xuất gia từ bỏ tất cả tiền tài, danh vọng, sắc đẹp, ăn ngon và ngủ kỹ thì không còn gì để kiêu mạn nữa.

Tóm lại, bất luận là người tại gia hay xuất gia, nên học tập các đức tính cao quý của bậc Đạo Sư. Thế Tôn đã dạy “sự thật về khổ và con đường diệt khổ”. Mỗi hành giả hướng tới sống hạnh viễn ly, quyết tâm từ bỏ những thứ cần phải bỏ.

Muốn loại bỏ được chứng bệnh “khen mình chê người”, ta phải có phương pháp tu. Hằng ngày hành trì thường xuyên, tập nhìn sâu vào mọi gốc rễ của vấn đề để thấy được thói xấu “khen mình chê người”, chuyển hóa bằng năng lượng từ bi, tác ý khéo, thấy đúng bản chất của sự việc đều là vô ngã. Ta giống như một chiếc điện thoại, dùng nhiều thì hết pin, không muốn hết pin thì phải sạc thường xuyên, đều đặn. Cũng vậy, hằng ngày đến giờ ngồi thiền thì phải ngồi, vì thiền là làm cho thân tâm lắng dịu, mát mẻ mọi cảm thọ. Tiếp tục rải tâm từ đến bản thân, đến người mình cung kính, đến trú xứ đang ở, đến tất cả chúng sanh đều được an lạc và hạnh phúc. Khi ta biết nhìn lại, quan sát những người xung quanh, để thấy mình còn may mắn, hạnh phúc, vì đâu đó vẫn có rất nhiều mảnh đời bất hạnh hơn mình. Từ đó, lòng từ được trưởng dưỡng, ác pháp dần nguội lạnh, tâm bạn trở nên mát mẻ và chính khoảnh khắc ấy, bạn đang dễ thương hơn…

Tâm Dược

Tin tức liên quan

Nét Đẹp Cúng Dường Trường Hạ
02/07/2022
Nét đẹp Xuất Gia Gieo Duyên chùa Hoằng Pháp
01/07/2022
Làn sương khói phôi phai...
17/06/2022
Nét đẹp Khóa tu mùa hè Thanh Thiếu Niên - Cơ Sở Hương Pháp, Củ Chi
16/06/2022
Để trở thành người có giá trị
09/06/2022