Pháp Môn Tịnh Độ
Niệm Phật Luận

Niệm Phật Luận

Tác giả: Đại Sư Thái Hư
Mục lục
Khai Thị Phật Thất

Ngày thứ hai của khóa tu Phật thất, tu Phật thất là muốn mọi người khởi tâm tu pháp môn Tịnh độ, tu pháp môn Tịnh độ là “Tịnh Độ Tam Kinh” mà Phật đã nói trên hội Phương Đẳng. Nói một cách đơn giản nhất là Phật nói kinh A-di-đà, kinh văn trong kinh ấy hầu như ai cũng đã xem và cũng dễ hiểu. Tu hành theo kinh “A-di-đà”, từ xưa đến nay ai cũng được vãng sinh Cực lạc.
Phật pháp có muôn ngàn pháp môn, pháp môn nào cũng được. Có một câu truyền ngôn: “Mọi ngõ ngách đều thông với đại lộ, mọi con đường đều vào thành Trường An”. Tuy đây là lẽ tất nhiên, những cũng cần vào sâu một cửa (chỉ tu một pháp môn). Tuy vào sâu một cửa, nhưng cũng nên có chính hạnh, trợ hạnh. Điểm này quí vị phải nên biết. Tu chính hạnh, là chuyên tu pháp môn niệm Phật, điều này nhất định lấy niệm Phật làm chính hạnh. Trợ hạnh, quí vị tụng kinh cũng được, tham thiền cũng được, cho nên pháp môn nào cũng làm trợ hạnh được.
Chỉ có chính hạnh của Phật pháp thì pháp môn nào cũng có chính hạnh. Nếu chỉ nói chánh hạnh của pháp môn Tịnh độ thôi thì pháp môn này, một câu thông thường cũng được vãng sinh. Vãng sinh thế giới Cực lạc thì dường như ai cũng biết. Có một phẩm nhất định, khi sinh lên thế giới Cực lạc, lại chia thành chín phẩm - ba phẩm thượng, ba phẩm trung, ba phẩm hạ. Tuy phân làm chín phẩm nhưng chỉ ở trong một cõi Tịnh độ, vậy thì có cả thảy bao nhiêu Tịnh độ? Thế giới Cực lạc có bốn loại Tịnh độ, mọi người phải biết, bôn loại Tịnh độ này ai cũng đã nghe rồi, nhưng chẳng ai lưu tâm mà thôi.
Vãng sinh đến địa giới này, tức khắc thành Phật, có Thường Tịch Quang Tịnh độ. Thường Tịch Quang Tịnh độ này cũng có chín phẩm - ba phẩm thượng, ba phẩm trung, ba phẩm hạ, ở đây tất cả đều là những Bồ-tát minh tâm kiến tính, đại khai viên giải, vãng sinh lên Thường Tịch Quang Tịnh độ này. Tuy là đến Thường Tịch Quang Tịnh độ, nhưng cũng chia làm chín phẩm - ba phẩm thượng, ba phẩm trung, ba phẩm hạ. Còn dưới Thường Tịch Quang Tịnh độ là gì? Thật Báo Trang Nghiêm Tịnh độ. Thường Tịch Quang là thanh tịnh pháp thân; chưởng giáo của cõi Thật Báo Trang Nghiêm Tịnh độ là Viên Mãn Báo Thân Phật. Những người vãng sinh lên trên ấy, đều là đại Bồ-tát, đều có công đức viên mãn, giới, định, tuệ đều đầy đủ.
Dưới nữa là cõi Tịnh độ Phương Tiện Hữu Dư, tức là cõi Tịnh độ Trang Nghiêm Hữu Dư thứ ba tính từ trên xuống dưới, từ trên xuống dưới cũng có chín phẩm. Chưởng giáo của địa giới này là Bách Thiên ức Vạn Hóa Thân, thật ra đều là Phật A-di-đà, điều này muốn nói Phật hiện thân hay không hiện thân, đều giống nhau. Quả vị rốt ráo cao nhất của điạ giới này là chứng A-la-hán, tứ quả A-la-hán có: Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán. Địa giới này cũng phân thành chín phẩm, tất cả đều là thánh địa.
Thứ tư là Phàm Thánh Đồng Cư Tịnh độ - phàm phu, thánh nhân. Thánh nhân à! Phật cũng có, Bồ-tát cũng có, như Quán Thế Âm Bồ-tát, Đại thế Chí Bồ-tát, những vị Bồ- tát ấy là những giáo thọ, không phải là người thọ giáo. Người thọ giáo chính là phàm phu chúng ta sinh lên cõi ấy, cũng phân làm chín phẩm. Cho nên giả định nói những kẻ ngu phu ngu phụ, nghe người ta niệm Phật tốt, nhưng ngay cả một câu kinh cũng không hiểu, cũng không biết chữ, cũng chẳng biết niệm, vậy thì thế nào được? Nghe người ta nói niệm một câu “Nam mô A-di-đà Phật”, nếu thành tâm cũng được vãng sinh về thế giới Cực lạc, nghe câu này có vẻ dễ quá! Mọi người nên biết, nếu thành tâm như vậy cũng được vãng sinh lên Phật quốc, chỉ có điều là địa vị hơi thấp một chút, nghĩa là bạn sinh lên Phàm Thánh Đồng Cư Tịnh độ, trong chín phẩm bạn sinh vào ba phẩm hạ, tầng thấp nhất này - ba phẩm hạ: Hạ thượng phẩm, hạ trung phẩm, hạ hạ phẩm; ba phẩm trung - trung thượng phẩm, trung trung phẩm, trung hạ phẩm; ba phẩm thượng - thượng thượng phẩm, thượng trung phẩm, thượng hạ phẩm. Phẩm hạ hạ này thôi, sinh lên đó bạn cũng vĩnh viễn không còn sinh tử, muốn áo có áo, muốn ăn có ăn.
Bạn chiếu theo trong “Phật Thuyết A-di-đà kinh”, bạn thấy hồ bảy báu, nước tám công đức, hàng cây bảy báu, tiếng chim hót trong không đều là tiếng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, không tu cũng tự tu, không chứng cũng tự chứng, tu đến cảnh giới ấy mọi người nên biết, đây là phẩm nào không? Đây chỉ là phẩm hạ hạ mà được như thế đấy, nếu cao hơn nữa thì sao? Mỗi tầng một cao hơn, mỗi tầng một tốt hơn, phước ấy hưởng không hết, nói không cùng được.
Bạn sinh lên phẩm hạ hạ này, tất bạn có thành tâm, khi sinh lên nơi ấy, phước hưởng không cùng, hưởng phước gì? “Muốn áo có áo, muốn ăn có ăn”. Bạn muốn ăn cơm, cơm tức khắc có ngay trước mặt. Mọi người phải biết rằng, đây chỉ là phẩm hạ hạ thôi đấy! Phẩm hạ hạ của ba phẩm hạ thôi! Ăn cơm xong chén bát tự nhiên biến mất, không như ở cõi này, phải thuê người hay phải tự rửa thu dọn, thật là phiền toái! Cực lạc thế giới hoàn toàn không có việc đó. Đây là nói một cách đơn giản về ăn uống, tiếp nói đến ăn mặc. Nếu bạn có tiền, bạn phải mua vải, phải mang đến thợ cắt may, phải đo cho vừa, rồi định ngày cũng chưa chắc đã có, mặc vào cũng chưa chắc đã vừa, rắc rối quá phải không! Đây mới chỉ là nói những người có tiền, còn những người không có tiền, càng rối rắm hơn nhiều! Không cần phải nhắc đến. Nếu bạn sinh lên nước Cực lạc, nếu bạn nói bộ đồ này tôi không thấy vừa ý, tôi muốn bộ đồ màu vàng kia, tức khắc bộ đồ bạn muốn có ngay trên mình, không cần phải đưa tay mắc vào hay cài cúc nút gì cả. Tôi nói cho bạn biết, nếu bạn đã lên trên ấy, thì cần cái gì có cái nấy, thành tựu theo ý muốn của bạn.
Mọi người phải hiểu rõ Phật pháp tùy tâm như ý, bạn muốn gì có nấy, thật là một cảnh giới an lạc biết bao. Đây là nói những kẻ ngu phu ngu phụ không biết chữ, nhưng lại nghe mọi người nói niệm Phật có ích, bèn phát tâm đêm ngày thành tâm niệm Di-đà. Nói tóm lại là hạng hạ đẳng thành tâm niệm Phật cũng được phước như thế. Còn những hạng cao hơn thì sao? Phước càng không cần phải nói.
Vừa rồi chỉ nói bậc hạ đẳng thôi, còn nếu như mỗi tầng mỗi nói thì nói không bao giờ hết được, trong lòng mỗi người đều có một dáng vẻ để so sánh, đây chỉ là nói ví dụ thế thôi! Hễ đến phẩm hạ hạ là so sánh, đến đâu so sánh? Lên trời so sánh, ai cũng thừa nhận rằng trên trời sướng. Trời có 28 tầng, 28 tầng này chia làm 3 cõi - Dục giới, sắc giới, Vô sắc giới. Dục giới có sáu tầng, sắc giới có 18 tầng, Vô sắc giới có 4 tầng, giống những cái này đều phải biết có cái so sánh, thì niệm Phật sẽ phát thành tâm ngay. Nếu không so sánh nó, mơ mơ hồ hồ, cho rằng niệm Phật chỉ cần có ý thức là được. Khổ muôn đời ngàn kiếp! Bạn cho rằng hành thiện là biết Phật pháp, đến cửa Phật phải thành tâm học Phật, nếu không có thiện căn nhiều đời thì làm sao có được tâm ấy? Cho dù có muốn tu cũng không dễ dàng gì tu được, chỉ làm tán loạn lên thôi, cho nên hễ nói đến phước đức cõi trời thì không cần phải nói kĩ, mười trời, tám trời có cũng nói không xong.
Dục giới có 6 tầng trời, tất cả đều do nam nữ hôn phối, con cháu nối dòng, mỗi tầng mỗi cao hơn, có trời Tứ Thiên Vương. Tứ Đại Thiên Vương ở trong núi Tu-di. Lên trên nữa thì có trời Đao-lợi, có Ngọc Hoàng Thượng Đế người thế gian thường gọi, coi việc phước họa của nhân gian, việc ấy đúng như vậy.
Hai tầng vừa nói trên đây là trời Địa Cư, ở trên đỉnh núi Tu-di, trời Đao-lợi ở ngay trên đỉnh, còn trời Tứ Thiên Vương ở ngay lưng chừng núi. Trời Địa Cư phước báu lớn hơn thế gian chúng ta nhiều, thọ mạng cũng rất dài, thọ mạng bao nhiêu? Năm mươi năm ở thế gian bằng một ngày ở trên trời, họ có thể sống 500 tuổi. Năm mươi năm tính một ngày, 365 ngày tính một năm, mà họ có thể sông đên 500 tuổi. Đến trời Đao-lợi thì gấp bội lên một lần nữa, một trăm năm thế gian bằng một ngày ở trời Đao-lợi, thế mà họ có thể sông đến 1.000 tuổi. Hai mươi tám tầng trời, nói đơn giản là gấp lên 28 lần, dùng máy tính tính thử xem thọ mạng của họ bao nhiêu? Phước báu của họ bao lớn? Đây là một so sánh, trời Dục giới còn ở trên đất, chưa tách rời vỏ trái đất mà phước đức thọ mạng còn không thể lường như thế đấy! Đến tầng trời thứ 3 là trời Dạ-xoa, đã rời khỏi vỏ trái đất, tách ra khỏi đỉnh núi, có chút khác thế gian chúng ta, có chút tâm thanh tịnh, có chút tâm thiền định, nhưng mà là thế gian thiền, chứ không phải xuất thế gian thiền, cũng không thiền thượng thượng của xuất thế, nó mới như thế.
Tầng trời Đâu Xuất thứ tư, trời Hóa Lạc thứ năm, trời Tha Hóa Tự Tại thứ sáu, thọ mạng phước báu mỗi tầng một cao hơn, phước báo mỗi tầng mỗi lớn, nghĩa là ở đây muốn nói thọ mạng nhiều không thể tính đếm, chỉ nói đại khái để so sánh thôi. Đây là trời Dục giới thứ 6, có trai gái yêu nhau, dựng vợ gả chồng. Đến trời sắc giới có 18 tầng, chia thành Tứ Thiền Thiên: Sơ Thiền Tam Thiên, Nhị Thiền Tam Thiên, Tam Thiền Tam Thiên, Tứ Thiền cửu Thiên, tổng cộng là 18 tầng. Trời 18 này chỉ có hình sắc, tất cả đều là nam giới (người nữ lên đây cũng chuyển thành nam) tất cả đều là hoa sen hóa sinh, cho nên ở đó cực kì sạch đẹp, thọ mạng mỗi tầng mỗi cao hơn.
Có công phu thiền định, là thiền của thế gian chứ không phải là thiền định của nhà Phật. Và công phu thiền định có thiền định thế gian, thiền định của thánh, thiền định của Phật, có từng cấp bậc như thế. Sơ thiền Li Sinh Hỉ Lạc Địa, Nhị thiền Định Sinh Hỉ Lạc Địa, Tam thiền Li Hỉ Diệu Lạc Địa, Tứ thiền Xả Niệm Thanh Tịnh Địa. Tứ thiền chia làm 18 thiên, trên có bốn thiên không, thêm Dục giới, Sắc giới tổng cộng có 28 tầng. Nói ví dụ phước báu to lớn, thọ mạng lâu dài này, nếu như so với sinh lên thế giới Cực lạc, mọi người nên biết còn không bằng ở phẩm hạ hạ, là phẩm thấp nhất của thế giới Cực lạc.
Tôi nói đến đây, mọi người phải biết, tu phước tu thiền định, thiền định bạn không nghiên cứu thấu Phật pháp, hễ tu là tu lên đến trời. Nhưng đó chỉ là thiền định của thế gian thôi, thiền định của nhân gian có thể cũng hơn nhân gian! Còn nếu so với Phật pháp thì kém xa, ở trong Phật pháp còn không bằng Tiểu thừa! Tiểu thừa có bốn quả, nhưng vẫn không đuổi kịp cả Sơ quả! Chư vị nói thử Phật pháp cao hay thấp, sâu hay cạn, những gì tôi nói mọi người hãy nghiên cứu kĩ. Cho nên có thể nói tôi không có thời gian, cũng không có trí tuệ làm cao tu hành được? Còn nói đến niệm Phật, làm sao có thể nói không có thời giờ để niệm Phật được. Vì sao? Vì không phải quí vị làm việc bằng miệng, bằng tâm. Làm việc, miệng niệm, tâm vẫn nhớ nghĩ được mà! Quí vị hãy nghĩ thử xem, có được minh sư bên cạnh, ăn mặc đầy đủ, cũng không lo phiền gì, tôi muốn tu lúc nào thì tu, không có gì chướng ngại cả, nếu như vậy không phải càng phải biết đủ sao? Bất luận xuất gia hay tại gia, tất cả đều có thể niệm Phật hết.
Nói lời này chính tôi cũng cảm thấy xấu hổ! Tôi niệm Phật, niệm cả ngày nhưng sao vẫn chưa thấy thành “phiến”, niệm thế nào? Bận chút là ngưng niệm, hơi mệt là nghỉ niệm. Cho nên pháp môn niệm Phật tuy rốt ráo như thế, nhưng mỗi ngày ít nhiều cũng phải niệm. Tôi còn phải chuẩn bị giảng kinh, còn phải cúng thí thực, bận như thế nhưng tôi vẫn niệm Phật luôn, tôi phải chuẩn bị một ít cho tôi, tuổi tác chừng này rồi! Lúc nào chết? Không cần phải nói xa xôi, mọi người phải biết tôi nói tiêu chí này là để đạo tràng niệm Phật 7 ngày. Thường tình niệm Phật 7 ngày, nhưng thực ra niệm một ngày thiện căn cũng đã trồng sâu rồi! Niệm trọn vẹn 7 ngày nhưng trong lòng phát đại hoan hỉ, thì thật không phải là chuyện dễ! Tôi dạy họ niệm Phật thế nào? Biết tôi đã có phần ở thế giới Cực lạc, tôi chắc chắn vãng sinh. Phải có tâm kiên định, có niềm tin, tôi tin pháp của đức Thích-ca Mâu-ni nói, tin nguyện của đức Phật A-di-đà đã phát, chẳng nhẽ Phật dối gạt chúng sinh sao? Nếu Phật là người nói dối thì hết thảy thế gian này, tất cả đều là kẻ nói dối! Phải có tâm chí thành tin Phật, niệm Phật khẩn thiết thì chắc chắn vãng sinh nước Phật. Nói điểm tiểu giáo này cũng đã đủ cho quí vị đời nay có phần làm Phật rồi.
Sinh lên thế giới Cực lạc, ở đó chúng ta không cần vì việc ăn, mặc, ở! Tất cả đều sẵn đủ. Ngày đêm chỉ có tu hành, thọ dụng có sẵn, việc tu hành đã sẵn sàng thì làm sao mà không thành Phật được? Lời nói! Không cần nói nhiều, nói nhiều thêm tiếng thị phi, nói nhiều không bằng niệm nhiều. Tôi nói nhiều là để đề khởi sự hào hứng cho mọi người, muốn cho mọi người phát khởi tâm thành xin tứ chúng cố gắng niệm Phật, tôi cũng phải trở về niệm Phật đây.
Hôm nay đạo tràng đã đến ngày thứ tư rồi! Lúc này chính là lúc dụng công đây. Trong bảy ngày này, hai ngày đầu tâm ta chưa dễ an định được, sang ngày thứ ba, thứ tư, thứ năm, ba ngày này là quan trọng nhất, phải dụng công tương ứng với công phu. Tất cả các pháp này là một pháp, niệm mãi, niệm đến tâm không tán loạn, ý không điên đảo thì công phu càng đắc lực. Hai ngày sau đạo tràng đã gần viên mãn, công phu đã có phần lơi lỏng. Hai ngày đầu thì tâm tán loạn, hai ngày sau cùng thì biếng trễ, chỉ có ba ngày giữa là khẩn thiết nhất. Pháp môn tu của Phật có đến 84.000 pháp, pháp môn nào cũng đáng tu cả, 25 chủng pháp cũng đều có thể tu. Nhưng đối với bốn chúng xuất gia, tại gia, pháp môn tu phương tiện nhất, đơn giản nhất, dễ dàng nhất vẫn là pháp môn niệm Phật.
Tôi nhớ cách đây hai năm đã nói qua về vấn đề này, hai pháp môn tham thiền và niệm Phật, thử đem ra so sánh. Ngày xưa tôi thọ giáo pháp với Pháp sư Đế Nhàn, tham học ở chỗ thầy ấy. Nghe Pháp sư Đế Nhàn nói: “Bản thân có ích thì giảng nói cho người cũng có ích. Người không biết dụng công cũng sẽ dụng công, người biết thì càng tinh tấn hơn”. Cho nên những gì tôi nói, có người đã nghe, cũng có người chưa nghe, ai nghe rồi thì thôi, còn ai chưa nghe thì cũng gắng nghe.
Pháp sư Đế Nhàn có hai cậu đệ tử, vị đệ tử lớn là người bán thế xuất gia, đã có một đứa con gái. Khi đi xuất gia thầy ấy không hề nói cho vợ biết, và đương nhiên là người vợ không đồng ý mới có chuyện để kể hôm nay. Thầy ấy quyết tâm phải xuất gia cho kì được, nên Pháp sư Đế Nhàn buộc phải thu nhận. Thầy ấy thích tham thiền, tu thiền ở đâu? Thiền đường nổi tiếng nhất Trung Quốc ta là Kim Sơn Thiền tự ở Trấn Giang, ngôi chùa được xây dựng trên một hòn đảo nhỏ giữa sông Trường Giang. Thầy ấy tự phát tâm xuất gia, tất nhiên là rất thành tâm, chẳng cần nhà cửa, chẳng cần vợ con, đứa con gái mới mấy tuổi thì gửi cho anh em nuôi, vợ thì đã trầm mình xuống sông chết. Thầy ấy cũng chẳng cần, mặc kệ hết! Đi tu thôi! Pháp sư Đế Nhàn thấy thầy ấy cương quyết quá đành phải đưa đến thiền đường Kim Sơn tu hành.
Thầy ấy tu hành rất tinh tấn, đã tu được mười mấy năm rồi, rất nổi tiếng, cũng rất nhiều đệ tử. Có đệ tử, có người cúng dường, nào ăn, nào mặc, nào ở... không thiếu thứ gì, vì thế lòng tham khởi lên. Có ăn, có ở, có người cung kính nên đã mống tâm kiêu ngạo. Quí vị thấy đấy, tham thiền thật không dễ dàng, rồi thầy ấy vọng tưởng, dương dương tự đắc, oan hồn người vợ cứ mãi theo thầy ấy. Người vợ không đồng ý, không muốn thầy ấy đi xuất gia, cho nên oan hồn đã theo sát để quấy nhiễu. Lúc thầy ấy tu tập tinh tiến thì có hộ pháp che chở, oan hồn không thể đến gần mê hoặc được. Khi thầy ấy đã khởi vọng tưởng, tham lam thì đạo hạnh thoái thất, thần hộ pháp không còn hộ mạng thì oan hồn người vợ đến gần mê hoặc. Thầy bị oan hồn nhập nên đã không thể tự chủ được, tự đâm đầu xuống sông. Thầy ấy do tham lam mê hoặc không làm chủ được mình. Chùa Kim Sơn bốn bề toàn nước là nước, lúc trời nắng, chùa y như ở trên trời - mây trời in hình dưới nước. Thầy ấy muốn nhảy xuống sông, thầy ấy bị oan hồn người vợ điều khiển. Nhờ có người thấy được nên đã vớt lên. Khi hỏi nguyên do tại sao lại nhảy xuống sông, thầy ngơ ngác không biết gì cả! Qua mấy ngày sau lại nhảy nữa, rồi lại được cứu khỏi! Thầy trụ trì chùa Kim Sơn nói: “Không được rồi, thầy ấy bị quỉ ám rồi, thầy ấy không biết nước là gì, hãy nhanh báo với Pháp sư Đế Nhàn đưa thầy ấy về thôi”.
Lúc ấy Pháp sư Đế Nhàn đang tu sửa tượng Phật ở Ninh Ba. Chùa Kim Sơn đưa tin nói: “Đệ tử của Pháp sư ở chùa chúng tôi, hai lần nhảy xuống sông, hỏi nguyên do, thầy ấy cũng không biết vì sao. Mơ mơ màng màng. Xin Pháp sư đưa thầy ấy về thôi!” Đế Nhàn nghĩ về người đệ tử của mình... người khác không thể đi thay được, ta phải đích thân đến chùa Kim Sơn. Vậy mà bảo đến cũng không đến, bảo đi cũng không đi. Chuyện này do Pháp sư Đế Nhàn kể lại. Chuyện thật 100%. Đúng thật thầy ấy đã bị ma ám rồi, người lờ đờ, bình thường nhanh nhẹn, ăn nói hoạt bát lắm. Thầy ấy nói lúc nhảy xuống sông thầy ấy hoàn toàn không biết gì! Pháp sư Đế Nhàn nói: “Đi thôi! Đừng ở đây quấy người ta nữa, họ là những người tu hành, con nay nhảy sông, mai lại nhảy sông, về với thầy đi con!”
Hai thầy trò cùng lên chiếc thuyền đế bằng, trong thuyền có hai chiếc giường, một ở bên trên, một ở phía dưới. Thầy ấy nằm ở chiếc giường bên trên, còn Pháp sư nằm ở chiếc giường bên dưới. Chuyến đi về bình an vô sự, cho đến khi về đến chùa Quán Tông ở Ninh Ba. Vì ở chùa Kim Sơn mười mấy năm, thầy ấy thuộc lại đệ tử lớn, là thủ tọa đương nhiên là có một thất riêng. Về đến Ninh Ba, thấy ấy được sắp xếp ở một thất riêng xa chúng, điều này thì không có vấn đề gì. Một hôm nọ, không thấy thầy ấy đi ăn cơm sáng, Pháp sư Đế Nhàn biết thầy ấy hay quên nên cho người ấy đến phòng tìm, đến nơi không thấy ai cả, cửa sổ mở toang, Pháp sư Đế Nhàn nói: “Chết rồi! Hữu sự rồi! cửa đóng kín hết, thầy ấy đã nhảy cửa sổ đi, có chuyện không ổn! Chắc là đi nhảy sông rồi!” Đế Nhàn báo động cho cả chùa chia nhau đi tìm kiếm, con sông quanh chùa nước sâu lắm, thuyền buồm vào ra được mà! Mọi người tìm hết trong chùa không thấy, mới cùng nhau men theo bờ sông, đi hơn nửa cây số thì thây thầy ấy đang trồi hụp giữa dòng sông, mọi người vớt lên đưa về chùa an táng.
Lúc bây giờ, đứa con gái của thầy đã lớn, cũng đã theo cha xuất gia. Pháp sư Đế Nhàn đang chuẩn bị báo tin thì sư cô tới, sư cô khóc lóc kể đêm qua nằm mộng thấy cha mẹ nay đã có chức, cha làm thổ địa, mẹ làm thổ bà. Thế là Đế Nhàn hiểu ngay ra nguyên nhân trong ấy. Cách chùa không xa mới xây một cái miếu thổ địa, huynh đệ đồng tu bèn niệm kinh cầu siêu cho thầy ấy, ni cô khóc sướt mướt. Pháp sư Đế Nhàn nói: “Hôm nay con nhận chức thổ địa, thầy cùng huynh đệ độ siêu cho con, con hãy hiển linh cho thầy xem thử nào!” Lúc ấy bỗng một trận gió xoáy nổi lên, gió lớn lắm, xoáy cả buổi, Đế Nhàn nói, trận gió này chính là thầy ấy hiển linh. Cho nên người tu thiền chỉ sai một niệm là đã lạc như vậy đó. Nói đến niệm Phật, Pháp sư lại nhớ đến người đệ tử thứ hai của mình, lời này cũng chính Pháp sư Đế Nhàn kể lại.
Pháp sư nói: “Người đệ tử thứ hai của tôi là một nghệ nhân, tục ngữ nói “thợ vá nồi”, nghĩa là xoong, nồi, chén đĩa vỡ cũng có thể gắn lại dùng, bây giờ thì không còn nữa rồi. Ngày xưa chén bể làm ba, bốn mảnh vẫn gắn lại sử dụng bình thường, ngày trước ai cũng tiết kiệm. Lúc bấy giờ Pháp sư Đế Nhàn đang tham thiền ở Kim Sơn. Ngày xưa giảng kinh, giảng mấy năm trời nhưng pháp hội của Pháp sư chẳng lúc nào đông cả, ai cũng cho rằng, không tham thiền, thuyết pháp không có khí lực. Pháp sư cảm thấy phải tham thiền mới được coi là một cái gì đó. Pháp sư ở Kim Sơn tự mấy năm, sau đó trở về thuyết pháp mới có người tin, mới có người đến nghe.
Lúc ở Kim Sơn, Pháp sư làm tri khách. Một hôm nọ, một người bạn cũ từ dưới quê lên chơi, là bạn từ thời thơ ấu. Pháp sư ngày xưa chưa đi xuất gia làm nghề buôn bán, sau theo học y với cậu của người bạn. Nghệ nhân gắn chén này tìm gặp Pháp sư nói muốn xuất gia, muốn nhận Pháp sư làm sư phụ, Pháp sư nói: “Không được rồi! Từng tuổi này rồi xuất làm gì nữa! Hơn 40 tuổi rồi! Chữ nghĩa thì không biết, học kinh giáo đương nhiên là không học nổi, khổ hạnh cũng không chịu được, bạn xuất gia chỉ thêm phiền thôi! Mấy lần khuyên nhưng ông ta kiên quyết xuất gia. Là bạn cũ quen thân từ nhỏ, Pháp sư bất đắc dĩ nói:
- Bạn nhất định muốn xuất gia. Được nhưng phải nghe lời tôi, tôi mới nhận làm đệ tử?
Ông ấy nói:
- Đương nhiên rồi, tôi nhận thầy làm sư phụ, thầy nói sao tôi cũng nghe theo.
- Bây giờ thế này, tuổi tác đã lớn rồi, học kinh giáo e không kịp nữa, bạn phải tu trực tiếp, phải nghe lời tôi.
- Thầy nói gì tôi cũng nghe theo, miễn là được xuất gia.
- Xuất gia rồi, bạn không cần thọ giới phẩm gì cả, tôi sẽ tìm cho bạn một cái miếu nhỏ, bạn ở trong đó chuyên tâm niệm Phật, tôi sẽ gọi mấy người hộ lo ăn uống cho bạn.
Lúc bấy giờ ở Ninh Ba, người tin theo Phật rất nhiều, hầu như thôn nào cũng có miếu nhỏ, cũng có người tin Phật, lạy Phật. Tôi đã từng ở đó ba năm, ở đó không cần gì cả, chỉ cần có một câu sáu chữ “Nam mô A- di-đà Phật”, niệm mệt thì nghỉ, nghỉ khỏe lại niệm tiếp, ngày đêm niệm niệm không ngừng, bất cứ việc gì cũng bỏ qua một bên. Pháp sư Đế Nhàn lúc ấy cũng có uy tín, tín đồ rất nhiều, cho nên cho người sắp xếp việc này cũng dễ. Pháp sư dạy ông ấy bế quan, cũng gọi là đóng phương tiện. Một tiểu miếu một người ở, mỗi ngày đều có người hộ hai bữa cơm. Nghe Pháp sư Đế Nhàn nói với ông ấy, cách tu này chắc chắn là phương cách tốt, hễ tu là đạt được hữu ích, ông ấy cũng không biết sau này sẽ được ích gì? Còn Pháp sư nói xong, trở lại ngay Kim Sơn.
Ông tinh tấn, ba, bốn năm liền, không đi đâu cả, đúng là tâm ban đầu, ông tinh tấn dữ! Có câu tục ngữ: “Nhứt niên Phật tại tiền, nhị niên Phật ra hiên, tam niên Phật đáo Tây thiên”. Người sơ phát tâm, luôn tinh tấn lắm. Dần dần sinh biếng trễ, tâm Bồ-đề thối thất.
Ông ấy nghe lời Pháp sư Đế Nhàn, chỉ trừ khi ngủ, thời gian còn lại đều niệm Phật. Ngày xưa là nghệ nhân, đến đâu cũng gồng gánh nên đôi chân khỏe lắm. Ông nhiễu Phật niệm Phật, đi mệt thì ngồi niệm. Pháp sư Đế Nhàn cũng không biết ông ta niệm đến cấp độ nào, chỉ biết sau ba, bốn năm... Một hôm nọ, ông ấy báo cho bà vãi đến nấu cơm rằng: “Ngày mai không cần đến nấu cơm cho tôi đâu, tôi không ăn trưa nữa”. Bà vãi nghĩ rằng ngày mai chắc có ai mời cơm rồi. Nhưng ba bốn năm nay có thấy sư phụ có đi đâu đâu? Ông ấy nói ông có hai người bạn thân, ông đi thăm chút là về ngay. Rồi ông lại nói với bà vãi: “Sáng mai bà cũng không cần đến nấu cơm đâu”. Hôm sau đến giờ nấu cơm bà vãi lại đến xem ông đã về chưa, đến nơi thấy cửa mở, bà vãi hỏi vọng vào: “Sư phụ đã về rồi đấy à?” Không nghe thấy tiếng đáp lại, bà rón rén bước vào, thấy ông ấy đứng đầu dưới chân giường, mặt nhìn ra ngoài cửa sổ, trên tay cầm xâu chuỗi. Bà vãi lại hỏi nhưng vẫn không nghe thấy tiếng trả lời, đến gần bên nhìn kĩ thì ông ấy đã đứng chết tự bao giờ! Niệm Phật đứng chết! Bà vãi sợ quá chạy ra báo cho mọi người lân cận: “Sư phụ chết rồi, đứng chết!”. Mọi người chạy cả đến, thấy ông ta một tay cầm chuỗi hạt, tay kia nắm một nắm tro, khi xòe bàn tay ông ấy ra thì thấy có 7, 8 đồng bạc tròn. Lúc ấy dụng cụ khạc đàm của người phương Nam không phải là ống nhổ, đựng một ít nước bên trong. Mà là một chiếc hộp vuông đựng tro. Người ta mỗi khi muốn khạc nhổ, thì nhổ đàm vào trong đó, mỗi ngày thay tro một lần. Thấy tay ông nắm chặt một nắm tro, bên trong có 7, 8 đồng tiền, mọi người đều hiểu ra rằng, nhất định là lúc còn làm nghệ nhân, ông đã dành dụm được số tiền này. Lúc ấy đồng bạc có giá trị lắm, có tiền không có tủ cất, cũng không tiêu pha gì, nên ông đã giấu dưới hộp khạc đàm. Có kẻ trộm nào mà biết được có tiền ở trong ấy. Vì sợ khi chết không ai biết, cho nên ông đã lấy tiền ra. Ông đã chuẩn bị một ít tiền để mọi người lo hậu sự cho mình.
Sau đó mọi người báo tin cho Pháp sư, hôm sau thì Pháp sư đáp thuyền đến. Thấy nhục thể đứng hai, ba ngày không ngã, mới buột miệng khen: “Tối thắng quá! Cuộc đời xuất gia của bạn thật không vô ích. Thành tựu như bạn thật hiếm hoi!”
Hai vị đệ tử của Pháp sư Đế Nhàn mà tôi vừa kể, một người tham thiền, một người niệm Phật. Chư vị so sánh thử xem, vị tham thiền ấy công phu tinh tấn suốt mười mấy năm, cuối cùng làm ông thổ địa; còn vị nghệ nhân niệm Phật chỉ có 3, 4 năm, mà đứng tịch thù thắng ít ai bằng. Hai câu chuyện này, tôi nhấn mạnh lại là hoàn toàn có thật. Hôm nay tôi lại kể cho mọi người nghe, mọi người nên biết, pháp môn niệm Phật so sánh với tham thiền, tu chỉ quán, tu mật tông thật vượt xa, pháp môn niệm Phật ai cũng hành trì được, không cần phải thông hiểu giáo lí, chỉ cần chịu niệm, không hoài nghi, không tu kiêm nhiều môn khác, không gián đoạn, chắc chắn vãng sinh nước Phật.
Chính Pháp sư Đế Nhàn nói: “Ngài làm trụ trì chùa Đầu Đà, ra qui củ làm việc, nghỉ ngơi, mỗi sau bữa cơm, mọi người đều cùng nhau niệm Phật, nhiễu Phật ba vòng, sau đó mới về phòng nghỉ. Lúc bấy giờ, chùa không có đồng hồ, chỉ có con gà trống gáy báo sáng, nghe tiếng gà gáy là mọi người gọi nhau dậy, lên chính điện công phu. Lúc ăn cơm con gà trống đi theo lên trai đường, mọi người ném cơm dưới đất cho nó ăn. Ăn cơm rồi ngồi tại chỗ niệm Phật xong mới đi, con gà liền đi theo sau, mọi người vừa đi vừa niệm “Nam mô A-di-đà Phật”, con gà trống ở sau cùng ngẩng cổ ư ư như cũng đang niệm Phật theo. Quí vị thấy hiếm có và kì lạ không? Đây là lời Pháp sư Đế Nhàn kể lại. Con gà trống còn đi nhiễu Phật nữa, nhiễu Phật xong mọi người ra nó cũng ra theo. Một hôm nọ, sau khi nhiễu Phật xong, mọi người ra hết nhưng con gà trống vẫn đứng ì không ra, thầy hương đăng nói: “Sao con còn chưa ra? Thầy còn phải đóng cửa nữa chứ!” Con gà trống vẫn đứng trơ, ngẩng cổ lên, ư ư ba tiếng rồi chết. Quí vị thử nghĩ xem, con gà trống niệm cái gì? Nó niệm không ra tiếng “Nam mô A-di-đà Phật”, nhưng hễ mọi người niệm Phật là nó cứ ư ư theo, đi nhiễu theo. Đây là chuyện ở chùa Đầu Đà lúc Pháp sư Đế Nhàn làm trụ trì. Tôi kể chuyện này là để chứng minh, làm chứng cứ súc sinh cũng có thể niệm Phật vãng sinh.
Chư vị bất luận là xuất gia hay tại gia, phải biết lợi ích chân thật của pháp môn niệm Phật, có công phu tức đắc niệm, bất kể là có hiệu dụng hay không, đến thời chắc chắn hữu ích, chắc chắn có kết quả tốt. Tôi không có thời gian để kể nhiều, chính mắt tôi thấy được mấy người, chính tai nghe được mấy người như thế, mà là những chuyện ngay vào thời đại của chúng ta đây. Thôi! Nói nhiều không bằng niệm nhiều! Không làm lỡ thời giờ niệm Phật của quý vị.
Thời gian trôi qua rất nhanh, hôm nay niệm Phật đã sang ngày thứ năm rồi! Chính là lúc tinh tấn dũng mãnh niệm Phật đây! Nói đến đây, tôi nghĩ đến mấy việc liên quan đến niệm Phật. Mấy ngày đầu năm, chùa Cực Lạc ở Cáp Nhĩ Tân vừa tu sửa xong, ở Bắc Kinh có một học viện Tăng, ở chùa Cực Lạc cũng có một học viện Tăng, học viện Tăng ở Bắc Kinh có 20 Tăng sinh; nhưng chùa Cực Lạc ở Cáp Nhĩ Tân thì không có Tăng sinh nào cả, toàn là học sinh tại gia, giống như một học đường Phật giáo, giảng dạy Phật pháp. Vì sao mà học viên tại gia lại đi học Phật pháp? Nguyên nhân là dân phong ở đó khai hóa muộn, họ còn quen những tập quán cũ lâu đời. Lúc bấy giờ đang là lúc cách mạng văn hóa, nhà nông đều sợ gia đình cũng cách mạng, cha con cũng cách mạng, lúc ấy hễ nói đến cách mạng, càng không muốn cho con em đến trường học, sợ học làm cách mạng. Không biết chuyện thế nào? Nghe nói Phật giáo có học đường, dạy Nho thư (sách nhà Nho, dạy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín), giảng Phật pháp, cho nên họ đã đưa con em đến chùa Cực Lạc học. Lúc tôi mới đến Cáp Nhĩ Tân, người ở đó không biết người xuất gia, đủ thấy phương Bắc Phật giáo yếu thế nào. Tìm Tăng sĩ đâu ra? Chưa thấy ở đâu mà Phật học viện lại toàn là học sinh tại gia như thế. Một năm tôi đi hai lần, từ Bắc Kinh đến Cáp Nhĩ Tân hơn hai ngàn dặm, dọc đường cũng có biết bao trường học. sắp tết, tôi phải trở về Cáp Nhĩ Tân, học sinh đã nghỉ tết hết, có mấy học sinh do nhà xa đã phải ở lại chùa ăn tết. Trong trường có một vị cư sĩ làm hiệu trưởng, dạy Nho thư, tôi cũng giảng Phật pháp cho học sinh, có một buổi tôi nọ nói chuyện với thầy hiệu trưởng.
Thầy hiệu trưởng tên là Trương Lạc Tây, ông ấy là một Phật tử thuần thành, nghiên cứu Phật pháp rất sâu, cũng rất khẩn thiết niệm Phật. Lúc nói chuyện, thầy hiệu trưởng hỏi tôi:
- Con có một nghi vấn, xin Hòa thượng từ bi giải thích, không biết có phiền lắm không?
Tôi nói:
- Có nghi vấn gì, ông cứ hỏi.
- Con đọc kinh, đọc ngữ lục, thấy có nói “duy tâm Tịnh độ, tự tính Di-đà”, con thấy có chút nghi vấn nơi hai câu này. Đã là “duy tâm Tịnh độ” thì cần gì phải cầu vãng sinh? Ngay nơi tâm tức là Tịnh độ, cầu tâm của chính mình là đủ rồi, hà tất phải cầu vãng sinh Tây phương? “Tự tính là Di-đà”, chúng ta ai cũng có tự tính, cần gì phải niệm Phật A-di-đà ở Tây phương? Tự tính chính là Phật A-di-đà, hà tất niệm Phật A-di-đà?
Ông ta hỏi cũng đúng! Tôi nói:
- Ông nghi vấn rất đúng, phải nên nghi như thế, nếu như không biết nghi vấn thì việc học Phật của ông làm sao mà khai ngộ được? Tôi đi thẳng vào vấn đề, ông nói “duy tâm Tịnh độ”, đã có Tịnh độ này rồi thì cần gì phải sinh lên Tịnh độ ở Tây phương Cực lạc thế giới? Tây phương Cực lạc có một cõi Tịnh độ, cũng là Tịnh độ này, “duy tâm” của ông cũng là Tịnh độ này, đương nhiên là ông có thể hoài nghi. “Duy tâm Tịnh độ” của ông đây với Tịnh độ ở Tây phương Cực lạc thế giới, hai Tịnh độ này chia ranh giới ở đâu? Chỗ nào được gọi là “duy tâm Tịnh độ?” Ở đâu là Tịnh độ của Tây phương Cực lạc thế giới? Nhất định phải phân biệt được cho rõ ràng, thì ông có thể niệm chính ông, tu cái “duy tâm Tịnh độ” của ông. Còn “tự tính Di- đà”, cái “tự tính Di-đà” của ông và Phật A-di- đà ở cõi Tây phương Cực lạc thế giới phân biên cương ở đâu? Ở đâu là tự tính Di-đà? Tự tính Di-đà rộng bao lớn? Biên giới của Phật A-di-đà ở Tây phương Cực lạc ở đâu? Bắt đầu chia ranh giới ngay chỗ nào?
Thầy hiệu trưởng suy nghĩ cả buổi, nhưng thật không phân biệt được. Ở đâu là ranh giới của “Duy tâm Tịnh độ”, ở đâu là chỗ của “tự tính Di-đà”, ở đâu là A-di-đà Phật. Thầy nói:
- Chỗ này con chịu rồi!
Tôi nói:
- Tất cả đều đúng cả, tôi nói tự tâm chính là Phật tâm, tự tính chính là Phật tính! Nói đến tâm tính thì rộng lớn vô biên, không ai biết được, cho nên điều nghi vấn của thầy hiệu trưởng chính là cái tâm này.
Cũng giống như người ngoại quốc nghiên cứu ra từ bộ não, điều này cũng không thể nói là sai, cũng không thể nói hoàn toàn đúng. Nếu họ nói không phải tâm, thì sao có tri giác? Nếu nói là tâm, thì không chỉ ra được điểm nào là tâm, tâm tính thì tận hư không khắp pháp giới. Tính là tâm, khác mà không phải khác, không phải khác mà khác, tính là thể, tâm là dụng, thể dụng không hai, thể dụng không thể tách rời, chính là lí này đây. Cho nên Tịnh độ duy tâm của Cực lạc thế giới chính là Tịnh độ của chính mình, tự tánh Di-đà cũng chính là A-di- đà Phật. Nếu ông thấy A-di-đà Phật là hai, thì ông với Phật có quan hệ gì? Ông không thừa nhận chính mình, cho nên phải thời thời khắc khắc niệm Phật, bắt đầu và ngay nơi đây.
Nói chuyện đến đây thì một cậu học sinh họ Vương tiểu học ngồi bên cạnh mỉm cười. Tôi nói:
- Con cười chắc con đã hiểu! Con nói thử tự tính này xem! Chỗ nào là tự tính của chính mình? Ở đâu là tự tính của Phật? Chỗ nào là tự tính A-di-đà của chính mình? Con nói thử có đúng không? Con cười chắc con hiểu đúng không?
Cậu học sinh họ Vương không cần suy nghĩ, liền nói:
- Chỗ ấy không phải là Phật tính!
- Đúng, giỏi quá! Con cũng nói ra được câu này - chỗ ấy không phải là Phật tính, ta hỏi con, đều có Phật tính đều là Phật tính, người xưa có câu nói “đánh cái bàn nó vẫn nằm im, con chó, con mèo đánh một cái nó chạy tuốt”, vật có tri giác là có tự tính, cái bàn không có tri giác, đánh nó nó không biết chạy, thì không có tự tính. Nếu những vật bất động, nó là tự tính, thì những vật đánh biết chạy không phải là tự tính. Sao đều là tự tính như nhau được? Con nói thử xem, con cười thì chắc con hiểu.
Tôi hỏi câu này, cậu ta suy nghĩ hồi lâu. Tôi nói:
- Lý này khó lắm, con không hiểu được, cả những học sinh nghiên cứu mấy năm cũng không hiểu được. Câu nói này của con đúng lắm, mấy đứa ở lại ăn Tết ở chùa năm nay hãy nói thử xem, ai nói đúng thầy sẽ thưởng cho một cái mũ.
Không ai trả lời được. Đây chính là “tự tính”, là “duy tâm”, là lý hai mà không phải hai.
Thầy hiệu trưởng họ Trương nghe xong mà thấy thâm thúy quá, ông bèn phát tâm tinh tấn dõng mãnh niệm Phật, trước đây ông cũng có niệm Phật nhưng không tinh tấn như vậy. Ông thuộc thành phần tri thức, tin Phật làm hiệu trưởng ở trường tiểu học, sau này khi lâm chung, ông đã được nhất tâm, biết trước giờ đi, chính mình biết được vãng sinh Cực lạc thế giới.
Cho nên, người niệm Phật chỉ cần thành tâm niệm Phật khẩn thiết, thì mười người niệm, mười người được vãng sinh. Vãng sinh cũng có nhiều đoan tướng (tướng lành hiện ra khi vãng sinh) không giống nhau, có người biết trước giờ đi, có người không bệnh mà chết, có người thân thể phát ra mùi hương lạ, có người trong không trung âm hưởng những tiếng nhạc êm dịu, cũng có người tất cả tướng ấy đều hiện. Điều này lí do vì sao? Có mấu chốt của nó, người giữ giới luật nghiêm tịnh, thì khi lâm chung miệng chắc chắn phát ra mùi hương thơm. Người giới luật tinh nghiêm, thì trong phòng đầy mùi hương lạ, phần lớn là người xuất gia. Giống như Hòa thượng Hư Vân vãng sinh ở Bắc Kinh thì không cần phải nói. Ngụy Nghiêm Kì là người tham thiền, là bậc tri thức trong tông môn, ông không tin niệm Phật vãng sinh thù thắng đến như vậy. Tham thiền sau khi chết cũng vãng sinh, nhưng vãng sinh lên trời Tứ Thiên Vương, trời Đao-lợi, trời Dạ-xoa, trời Đâu-xuất, ở đó gặp đức Di Lặc Bồ-tát, Bồ- tát Di Lặc còn chưa thành Phật! Những người tham thiền đợi đến thời hạn, đến tụ hội chỗ đức Di Lặc Bồ-tát. Lúc Bồ-tát Di Lặc thành Phật thì theo Phật hoằng hóa, đây là lý nhất định của người tham thiền. Lúc vãng sinh, nhất định vãng sinh lên trời Đâu-xuất. Đâu-xuất có nội viện, ngoại viện, trời người ở Đâu-xuất ngoại viện, thế giới ấy sung sướng lắm, nhưng đây là ngoại viện, tất cả đều là phàm phu. Trong nội viện toàn là Thánh nhân, đức Di Lặc làm giáo chủ, đến lúc hạ sinh thành Phật, đây là Phật dự khuyết. Nhưng trời Đâu-xuất là cõi phàm thánh ở chung, chỉ thấy phàm phu ở Đâu-xuất thiên ngoại viện, còn thánh nhân trong nội viện thì không thấy. Cũng giống như Trung Quốc chúng ta đây, ai cũng biết Phổ Đà Sơn ở Nam Hải có Bồ-tát Quán Thế Âm, ai cũng biết nhưng chẳng ai thấy cả. Lúc có cơ duyên Bồ- tát hiện thân, cho nên ai cũng biết Phổ Đà Sơn có Bồ-tát Quán Thế Âm, có rất nhiều người đi đến đây lễ Bồ-tát Quán Thế Âm. Phàm phu ở Đâu-xuất thiên cũng như vậy, đều biết có thánh nhân sắp hạ sinh thành Phật, cũng biết cung kính nhưng không ai thấy cả. Đây là nói người tham thiền sinh lên trời Đâu-xuất; còn người niệm Phật, chỉ cần tịnh niệm tương tục, nhất tâm cầu sinh Tịnh độ, nhất định quí vị vãng sinh ngôi cửu phẩm!

Phật giáo là sự giáo dục chí thiện viên mãn của Phật-đà đối với chúng sinh trong chín cõi.
Tất cả những kinh điển mà đức Thích-ca nói suốt trong 49 năm, nội dung không ngoài chân tướng về vũ trụ nhân sinh.
Giác thì gọi là Phật, Bồ-tát, mê thì là phàm phu. Tu hành chính là sửa chữa những cách
nghĩ, cách nhìn, cách làm, cách nói sai lầm của chúng ta đối với vũ trụ nhân sinh.
Cương lãnh tu hành của Phật giáo là Giác, Chính, Tịnh. Giác là không mê, Chính là không là, Tịnh là không nhiễm. Đồng thời nương vào Tam vô lậu học - Giới, Định, Tuệ, để đạt được đến mục tiêu này.
Cơ sở tu học là tam phúc: Cư xử nương lục hòa, xử thế tu Lục độ, tôn kính Phổ Hiền, qui tâm Tịnh độ. Thì việc giáo hóa mới thành tựu viên mãn.


Pháp sư Tịnh Không

Sách cùng thể loại
Ấn Quang đại sư gia ngôn lục
Ấn Quang đại sư gia ngôn lục
Như Hòa
48 Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà
48 Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà
Thích Pháp Đăng
Những điều căn bản về pháp môn Tịnh Độ & trợ niệm lúc lâm chung
Những điều căn bản về pháp môn Tịnh Độ & trợ niệm lúc lâm chung
Thích Tâm Hoà
Tịnh Độ Cảnh Ngữ
Tịnh Độ Cảnh Ngữ
Thích Minh Thành
Tịnh Độ Hoặc Vấn
Tịnh Độ Hoặc Vấn
HT.Thích Thiền Tâm
Tây Phương Yếu Quyết
Tây Phương Yếu Quyết
Thích Nguyên Chơn