Bài viết

Yêu và chết

Cập nhật: 09/03/2018
Chiều nay, tôi lại đưa sư anh ra phi trường để về xứ sở mặt trời, tiếp tục cuộc hành trình tìm cầu tri thức và mở ra cơ hội hoằng pháp lợi sinh cho những người con Việt xa quê. Đây là lần thứ ba tôi tiễn anh đi. Mỗi lần đều có những cảm xúc khác nhau.
 

Lần đầu là niềm quyến luyến khi phải xa một người bạn tu sống chung phòng gần năm năm trời. Lần thứ hai là niềm vui khi biết anh đậu vào đại học bên ấy. Lần này là chút bâng khuâng khi anh phải ở lại Nhật Bản một thời gian khá lâu mới có thể về thăm lại Việt Nam. Cuộc vui nào cũng có lúc tàn, đời người phải có những lần tiễn nhau đi xa mới có thể hiểu được cái khổ “ái biệt ly” mà ngày xưa đức Phật đã từng dạy. Tình đạo quý hơn tình đời ở chỗ có “thương” mà không có “vương”, tuy “quý mến” nhưng không “ái luyến”. Có thể mượn câu nói của người xưa để ví von: “Thoang thoảng hoa nhài thơm lâu”. Chúng tôi tu tập cùng nhau, đó là mối lương duyên giải thoát, còn ngoài đời người ta có tình yêu nam nữ, tình đồng nghiệp, thậm chí là tình bạn nhậu,… Những thứ tình tri âm, tri kỷ, tri giao đó thường hay mang nặng chút vị kỷ và toan tính.

Ôi! Hình như tôi lại sa đà về chữ “tình” mất rồi. Nhưng ngẫm thử mà xem, là một người phàm sống trong cõi thế, làm sao chúng ta không có những tình cảm, nào là tình cha mẹ, tình anh em, tình thầy trò, tình quê hương sông núi,… Người tu có những phút nặng lòng với đạo, thì đó là tâm tình thương Phật, quý Pháp, trọng Tăng, tình thiết tha hướng về giải thoát. Người mang chí nguyện Bồ-đề muốn thành Phật độ đời thì mang nặng tâm tư về sự đau khổ của chúng sanh. Tiền thân đức Phật Thích Ca cách đây bốn A-tăng-kỳ và 100.000 đại kiếp là ẩn sĩ Sumedha, cũng vì đau đáu về những khổ đau trong vòng luôn hồi vô tận của nhân gian mà Ngài đã phát nguyện đóng một chiếc thuyền lớn để chở chúng sanh từ bờ mê sang bến giác. Với Ba-la-mật sâu dày thuở trước, Bồ-tát lúc này đã chứng được Tứ Thiền Bát Định, đủ khả năng giác ngộ để trở thành một vị Thánh đệ tử Thanh Văn với Tứ Tuệ Phân Tích dưới chân đức Phật Nhiên Đăng, nhưng vì nặng tình với chúng sanh mà Ngài chấp nhận trôi lăn trong sanh tử luân hồi suốt một khoảng thời gian dài để vun bồi Ba-la-mật. Trong khi phát lời nguyện lớn, dù biết mình sẽ có những lúc phải rơi vào địa ngục, chịu đói khát trong cảnh giới ngạ quỷ, bị máu đổ đầu rơi trong chốn bàng sinh, hay vướng phải thị phi ganh ghét của cõi người, ngài vẫn chấp nhận tất cả bởi một tấm lòng đại bi vô lượng. Chữ “tình” đó cao quý biết chừng nào. Tôi chợt nghĩ, người học Phật phải là một người biết yêu, nhưng tình yêu đó đẹp và cao thượng hơn tình yêu nam nữ: yêu cái thiện, yêu điều lành, yêu sự giải thoát, yêu những người xa lạ bằng tâm không phân biệt. Tình cảm thiêng liêng ấy được khoác lên mình bằng một tên gọi khác là từ vô lượng và bi vô lượng.

Trước ngày anh đi, trong những cuộc nói chuyện vui đùa, anh em chúng tôi hay trêu chọc: “Thầy đi chuyến bay nào thì báo cho anh em biết số hiệu máy bay để xem tin tức, lỡ có chuyện gì còn biết đường mà đi lượm… Xá-lợi”. Sư anh cười xòa rồi đáp lại bằng giọng nghịch ngợm (giọng điệu này chỉ dùng khi đối đáp với “người trong nhà” thôi nhé): “Con cảm ơn các thầy đã quan tâm, con mới tu vài năm chưa đủ để có Xá-lợi đâu, chỉ mong là các thầy xin Sư phụ tụng cho thời kinh Địa Tạng là hạnh phúc lắm rồi”. Giọng ai đó vang lên: “Tụng có chắc siêu nổi không đó thầy, vía này nhìn nhỏ nhỏ vậy thôi chứ nặng dữ lắm à nghen, hạnh nguyện xây chùa bên Nhật chưa thành thì làm sao đi được”. Chúng tôi lại phá lên cười. Anh em xuất gia đều còn nhỏ tuổi, nên đôi khi còn chút gì đó rất “trẻ con”. Những cuộc vui đùa như thế chính là những phút giây để mọi người xây dựng tình huynh đệ, quan tâm và gần gũi nhau hơn. Cũng có lúc, người này chọc người kia, tinh nghịch phá người nọ, nhưng chúng tôi khá biết giữ mình để những cuộc vui luôn dừng lại đúng lúc, đúng thời, và không phiền lòng đến bất kỳ ai.

Nghe cuộc trò chuyện của những “ông anh” lớn. Tôi chợt nghĩ: Thật “bó tay” các bác nhà mình! Ngoài đời, trước khi đi xa mà nói gở kiểu này là người ta kỵ lắm, nhưng hình như các vị đi tu không còn biết sợ trời đất là gì nữa hết. Mà đúng rồi, trời đất đâu có làm gì cho các ông phải sợ! Người con Phật chỉ sợ nhân quả nghiệp báo, sợ cái xấu, cái ác, sợ mình không có sự tu tập, sợ tâm mình thiếu tàm, quý, tinh tấn, vướng phải tri kiến sai lầm, còn lại những chuyện vặt vãnh phù du, hên xui may rủi khác, đâu đáng để một người con Phật phải quan tâm. Các anh nói như thế không chừng lại phù hợp với lời Phật dạy nữa là đằng khác. Vì sao vậy? Trong kinh, chẳng phải đức Phật từng dặn dò các thầy Tỳ-kheo phải quán niệm về sự chết đó hay sao!

Này các thầy Tỳ-kheo, khi ngày vừa tàn và đêm vừa an trú, các ông hãy ngồi lại và chiêm nghiệm như thế này: “Các nhân duyên đem đến cái chết cho ta rất nhiều. Con rắn có thể cắn ta, con bò cạp có thể cắn ta, con rít có thể cắn ta. Đó là những trở ngại cho ta. Ta có thể vấp ngã và té xuống. Cơm ta ăn có thể làm ta mắc bệnh, hay mật và đàm trong cơ thể sẽ khuấy động ta, cũng như vô vàn những điều kiện tác động khác từ bên trong lẫn bên ngoài đều có thể làm cho ta tử vong bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu”.

Vậy cho nên, các thầy phải xem những phiền não nào mình còn chưa đoạn tận, những điều bất thiện nào mình chưa thể dứt trừ, các pháp của bậc Thánh nào mình còn chưa chứng đắc. Khi còn là một phàm phu, sự lìa bỏ cõi đời ngay đêm nay bằng tâm chưa thuần thục là điều nguy hiểm và bất an cho các thầy, vì các thầy không biết được cảnh giới mình phải tái sanh. Do đó, các thầy phải chánh niệm tỉnh giác, tinh tấn dõng mãnh, nỗ lực tu tập, tinh cần không thối chuyển để đoạn trừ những gì cần phải đoạn trừ, chứng đắc những gì cần phải chứng đắc.

Cũng giống như khi áo quần hay đầu tóc mình bị cháy, người ta phải dập lửa ngay tức khắc để không bị tổn hại, đau đớn. Các thầy hãy sống một cách hân hoan để thực tập những thiện pháp. Bằng cách suy niệm về cái chết, sẽ đem lại quả báo lớn, lợi ích lớn, có thể thể nhập vào bất tử, cứu cánh bất tử.

Các phương pháp thiền tập truyền thống, đặc biệt là ở Thái Lan và Miến Điện luôn chú trọng đến bốn loại đề mục bảo hộ: tùy niệm ân đức Phật, tùy niệm chết, quán bất tịnh và tứ vô lượng tâm. Có một điều thú vị là dường như khi nghĩ nhiều về cái chết, người ta lại bớt sợ chết. Nghĩ rằng mình sắp chết, ta sẽ xem nhẹ tấm thân này và biết thương người khác nhiều hơn. Trong năm vừa rồi, tôi phải đi bệnh viện hai lần. Một lần nhập viện vì bị viêm đường tiết niệu. Một lần sau Tết vừa rồi là đau bụng phải đi cấp cứu, bác sĩ khám không ra bệnh, nhưng vẫn phải nằm lại bệnh viện hai ngày thì bệnh tự khỏi rồi ra về. Như một phép màu vậy! Những lúc vừa khỏi bệnh là những ngày tôi cảm thấy mình tinh tấn hơn bao giờ hết (Nhưng hình như chỉ được vài ngày rồi mọi thứ lại đâu vào đấy! Chủng tử phàm phu của mình thì nhiều như đại địa còn hạt giống giải thoát chỉ ít như chút đất trong móng tay).

Khi đối diện với bệnh tật, tai nạn, hay mỗi lần chạm mặt với tử thần, là một lần chúng ta lại được một lần nhìn lại sự tu tập của bản thân. Có nhiều lúc tôi chợt nghĩ: “Bây giờ mình chết rồi sao ta? Ừ, thì bỏ lại sau lưng tất cả, những dự định chưa thực hiện, những kế hoạch còn dở dang”. Nhìn những người xung quanh, người mang bịch nước tiểu, người đeo chai nước biển, người nhắm mắt thiếp đi để tạm quên cơn đau, tôi bỗng chạnh lòng mà ngán ngẫm cho cuộc thế. Già, bệnh, chết là những điều luôn đeo bám bên mình, vậy mà chúng ta thường ham vui mà quên đi điều đó.

Từ Tổng thống Hoa Kỳ Donal Trum cho đến tỉ phú giàu nhất thế giới là Jefff Bezos (người sáng lập trang thương mại điện tử Amazon), dù thông minh tài trí như Bill Gates (ông chủ của Microsoft) hay xinh đẹp như Demi-Leigh (hoa hậu hoàn vũ năm 2017 người Nam Phi), khi đột ngột ra đi bởi tai nạn hay bệnh tật bất ngờ thì họ cũng phải bỏ lại sau lưng bao tài sản, danh tiếng, địa vị, sắc đẹp,… Nếu biết mình không còn sống được bao lâu nữa, chắc rằng người ta sẽ sống có ý nghĩa hơn và biết sắp xếp những gì còn đang dang dở. Có lẽ, những nhân vật nổi tiếng và bận rộn này sẽ dành thời gian nhiều hơn để quan tâm, chăm sóc cho bản thân và gia đình, sống chậm một chút và bớt tham lam một tí. Nghĩ hơi lạ, nhưng tôi tưởng tượng một điều rất thú vị là nếu những nguyên thủ quốc gia được các bác sĩ uy tín hàng đầu thế giới thông báo rằng họ bị bệnh hiểm nghèo và chỉ còn sống được một tháng, các ông sẽ không còn rảnh để ngồi bàn chuyện chế ra vũ khí hạt nhân hay tên lửa xuyên lục địa. Công dân các châu lục sẽ đỡ lo lắng, những người lính sẽ được nghỉ ngơi và bao nhiêu nhà báo quốc tế trên toàn cầu cũng không phải chạy ngược chạy xuôi để săn tin tức về chiến tranh thế giới. Ngay bản thân người viết, nếu biết một lát mình sẽ chết, tôi có ngồi để bấm từng con chữ như thế này không? Câu hỏi thật khó để trả lời.

Tôi nhớ cách đây hai năm, có một anh thợ hồ hay làm việc trong chùa, chiều hôm ấy là buổi chiều cuối thu, lá vàng lác đác bay trong gió và những tia nắng cuối ngày đang dần chợt tắt, anh ghé phòng thầy Tổng Giám Luật để nhận tiền lương, vừa cầm tiền thì anh bỗng bật người ra phía sau và không thở được, vì anh bị chứng nhồi máu cơ tim. Chùa lập tức đưa anh đi cấp cứu nhưng không kịp. Người ra đi mà không một lời từ biệt. Ba mươi hai tuổi, một vợ hai con. Bình thường, sức khỏe của anh gấp ba lần người khác, vậy mà anh ra đi đột ngột không trăn trối được lời nào. Trái tim của chúng ta có thể ngừng đập bất cứ lúc nào; những giọt máu của mình khi vui thì chạy lên não nhưng buồn thì tắc nghẽn lại đâu đó; những mô tế bào cũng có thể dở chứng mà phản trắc, không phát triển bình thường thì sẽ trở thành những khối u. Tấm thân dài hơn một mét rưỡi mà mỗi người đang sở hữu thật ra chỉ là một món đồ lắp ráp.

Thế Tôn từng nhắc chúng ta: Trong tấm thân dài một trượng này, ta chỉ nói đến hai điều, đó là khổ và con đường chấm dứt đau khổ. Thân tâm vốn vô thường, vì chúng vô thường cho nên khổ, nếu như vậy thì mình có nên xem thân này là ta, là của ta không? Vì chấp ngũ uẩn này thật có nên đời sống của chúng sanh rối ren như một cuộn chỉ, như tơ vò.

Đầu năm đầu tháng mà bàn đến cái chết sẽ khiến cho nhiều người không được vui, có người còn nói rằng: “Đạo Phật sao mà bi lụy quá! Suốt ngày các thầy cứ nói khổ, chết, thân thể là bất tịnh, đáng chán, đáng ghê sợ,…”. Thật ra, đó lại chính là những sự thật muôn thuở của cuộc đời. Mình sống trong “mơ” quen rồi nên thấy cái gì cũng đẹp, ở đâu cũng vui, mọi thứ đều tốt. Chúng ta tự ru ngủ mình bằng những quan điểm đó, bằng cách nhìn đại khái và lướt bên ngoài bản chất của sự thật. Đức Phật ra đời để chỉ cho nhân loại sự thật vĩ đại này. Từ “Buddha” mang rất nhiều ý nghĩa, trong đó có một ý nghĩa rất đặc biệt mà tôi rất thích: “Budha” nghĩa là người thức dậy sau một giấc ngủ mê. Thiền sư Nhất Hạnh dịch là “Người Tỉnh Thức”. Còn chúng ta là những người được các bậc Thánh gọi là “kẻ vô văn phàm phu không biết về các bậc Thánh, không hiểu rõ pháp của các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không biết về các bậc chân nhân, không hiểu rõ pháp của các bậc chân nhân, không tu tập pháp các bậc chân nhân”, là những người đang chìm sâu trong giấc mộng dài của vô minh và tham ái, không dám đối diện với sự thật: khổ, vô thường, vô ngã.

Khởi đầu bài viết, tôi làm một cuộc lãng du về hành trình đưa “anh thầy bạn” ra sân ga và những chiêm nghiệm về cuộc luân hồi là những chuyến đi xa. Mỗi người mang cho mình một hành trang để đến những phương trời xa lạ. Cùng một chuyến bay, một nơi xuất phát, nhưng hành lý mà mỗi người mang theo khác nhau vì hạnh nghiệp khác nhau. Nào ngờ, tôi lại nhớ đến cuộc chuyện trò vui vui hôm trước liên quan đến việc “một đi không trở lại”. Suy tư một lúc, viết ra một hồi thì “em đi xa quá”, không còn trở lại được nữa. Thôi thì vạn sự tùy duyên, có những chuyện không phải mình muốn là được. Đành kết thúc bài viết bằng một kiểu chẳng giống ai:

“Nếu chỉ còn một ngày để sống”... Chúng ta sẽ phải làm gì?

Sự sống và cái chết cách nhau chỉ bằng một ranh giới rất mỏng manh. Đó chỉ là hơi thở, thở ra mà không thở vào nghĩa là chúng ta đã phải chia tay với cuộc đời. Chúng ta có quán niệm về điều đó thường trực thì đời sống sẽ thay đổi theo hướng tích cực nhiều hơn là tiêu cực. Mình sẽ ưu tiên đầu tư cho những gì cần thiết hơn là sở thích, quan tâm đến người khác nhiều hơn bản thân, dễ dàng bỏ qua những giận hờn vụn vặt, bao dung và từ ái với những người xung quanh. Biết nghĩ đến cái chết, chúng ta sẽ hi sinh hơn vì biết rằng mình không còn nhiều cơ hội, sống đơn giản hơn vì thấy rằng mọi việc đều rất phù du. Mình vẫn lập kế hoạch, dự định, tương lai,… vẫn cố gắng làm việc, học hành, tu tập,… nhưng không bị dính mắc, buồn phiền, đau khổ khi những dự định bất thành hay kế hoạch không thực hiện được. Và một điều có vẻ hơi ngược đời là: “Khi nghĩ về cái chết, chúng ta sẽ bớt sợ chết”. Nếu mình phải đột ngột ra đi nhưng đã có sự chuẩn bị thì sẽ không mấy bận lòng bởi những gì còn đang dang dở, những hoạch định lỡ làng và tình cảm với những gì ở lại. Những gì cần nói mình đã nói, những gì cần làm cũng đã làm, nhờ vậy mà việc “thay chiếc áo mới” sẽ dễ dàng hơn. Sống để hướng về cái chết và chết để bắt đầu một sự sống mới, quan trọng là hành trang trên chuyến tàu sinh tử ấy là gì?

Kính Đức

Tin tức liên quan

Giới thiệu ấn phẩm đặc biệt “Hương Pháp – Tập 16”
30/12/2019
Giới thiệu ấn phẩm mới: Tập thơ "Bùn"
08/05/2019
Lời tâm sự
15/11/2018
Phỏng vấn TT. Thích Chân Tính về việc xây chùa Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ
11/11/2018
Bàn tay người quét rác
08/11/2018