Bài viết

Phật giáo và bình đẳng giới

Cập nhật: 21/09/2020
Giới tính là sự phân biệt giữa nam và nữ, vai trò và vị trí của họ trong xã hội. Vấn đề bình đẳng giới được nêu lên nhằm giải quyết sự thiệt thòi của phụ nữ vì bị đối xử phân biệt cả xưa và nay.
 

Phật giáo và bình đẳng giới

 

Phật giáo đã đóng góp gì cho việc thực hiện bình đẳng giới? Phật giáo là tôn giáo xuất hiện cách đây hơn hai mươi lăm thế kỷ tại Ấn Độ, nơi mà người phụ nữ bị đối xử khắc nghiệt gần như nô lệ. Trong bối cảnh đó, đức Phật với giáo lý của Ngài, đã dành cho người phụ nữ vị trí xứng đáng trong xã hội cũng như trong quả vị tu chứng. Bình đẳng giới không chỉ thể hiện qua các văn kiện, báo cáo… đã được công nhận về mặt pháp lý mà còn cần được thông hiểu, hành trì đối với tất cả Phật tử, từ đó có những ảnh hưởng tích cực đến xã hội. Có thể khẳng định tính chất bình đẳng, vô phân biệt, bất nhị của Phật giáo là chân lý có thể áp dụng qua mọi thời đại, mọi vị thế địa lý.

Giới hay giới tính được dịch từ gender (tiếng Anh), gendre (tiếng Pháp) hay sex (tiếng Anh), sexe (tiếng Pháp), có gốc La-tinh là gener, genus, nghĩa là sự sinh ra, chủng tộc, giống loài, được sử dụng từ thế kỷ 14.

Giới tính thường nhằm để phân biệt nam và nữ qua chức năng sinh lý, vai trò và vị trí trong xã hội. Theo thời gian, giới có cách sử dụng từ phân biệt rõ ràng về ý nghĩa sinh lý học (sex) và ý nghĩa về vai trò xã hội. Nhưng mãi đến 1970, người ta mới công nhận sự thay đổi này. Sự thay đổi đó cũng là những nỗ lực bình đẳng hóa giới tính. Theo cách này thì sự phân biệt nam nữ là phân biệt về sex, về sinh lý học chứ không có sự phân biệt trên bình diện vai trò và các hoạt động xã hội. Với sự phát triển của xã hội cùng với những tiến bộ về văn hóa, đạo đức, vai trò của người phụ nữ ngày càng được khẳng định.

Con người từ khi biết sống hợp quần và sống bằng cách săn bắt, hái lượm thì người nam vì có sức mạnh về thể chất nên đảm nhiệm những công việc nặng nhọc hơn; còn người phụ nữ lo việc nhà, chăm sóc con cái… Lúc này, việc phân biệt vai trò vị trí đã có nhưng không rõ ràng. “Nguyên lý mẹ” trong những buổi đầu của xã hội loài người làm nên chế độ mẫu hệ. Cho đến khi con người tìm ra kim loại, sự nổi bật vai trò của nam giới đã hạ thấp địa vị của người phụ nữ; sự bất bình đẳng giới xuất hiện từ đây và kéo dài ngàn năm sau kể từ thế kỷ 40 trước Tây lịch. Chính quan niệm trọng nam khinh nữ đã tạo nên huyền thoại cho rằng thượng đế đã tạo ra người nữ từ xương sườn của người nam, vì thế người nữ phải phụ thuộc vào người nam và chịu nhiều bất công.

Phật giáo với giáo lý vô ngã, đã giải thích rõ đức Phật không có sự phân biệt giữa người và ta. Kinh Hoa Nghiêm ghi: “Tất cả là một, một là tất cả”. Hay như kinh Phật Tự Thuyết viết: “Nước biển chỉ có một vị mặn. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, giáo pháp của Như Lai chỉ có một vị là vị giải thoát”. Những người theo Ngài tu tập giáo pháp, đều được gọi là Thích tử, không hề có sự phân biệt.

Vào thời đức Phật, sự phân biệt nam nữ và giai cấp là hai vấn đề được Ngài bác bỏ. Đức Phật là người đầu tiên trong lịch sử đã xóa bỏ sự phân biệt và cho nữ giới gia nhập vào Tăng đoàn. Bằng chứng cho thấy các vị đệ tử Ni của Ngài vẫn thành tựu trong tu tập: Tôn giả Kiều Đàm Di, Khema, hoàng hậu Mallika, kỹ nữ Ambapali, chuyện Long Nữ thành Phật trong kinh Pháp Hoa… Bậc giác ngộ hoàn toàn đã nhìn thấy được Phật tánh vốn có trong mỗi chúng sanh, khả năng giải thoát thành Phật của nữ giới không thua kém nam giới. “Ở đời, có nhiều thiếu nữ có thể tốt hơn con trai. Họ có trí tuệ, giới đức”. (Kinh Tương Ưng).

Phật giáo là tôn giáo đầu tiên công nhận bình đẳng giới. Lịch sử tu tập và hoằng hóa của các nữ đệ tử đã chứng tỏ được vị thế, vai trò, chức năng của phụ nữ cũng ngang hàng với nam giới. Sau hơn một thế kỷ đấu tranh với các hội nghị, nghị quyết, văn bản pháp luật thì vấn đề bình đẳng giới cũng chỉ ở mức tương đối mang tính hình thức. Tin tức có khi đưa lên trường hợp chồng bị ức hiếp đánh đập cũng chỉ xuất phát từ sự nhường nhịn, yêu thương hay lịch sự đối với phụ nữ, chưa thật sự là tôn trọng bình đẳng. Thực hiện bình đẳng giới đòi hỏi ý thức đúng đắn bằng trí tuệ, đạo đức xuất phát từ việc tu tập theo giáo lý Tứ vô lượng tâm, Lục độ Ba-la-mật, Thập thiện nghiệp… Cái chính là tinh thần, tâm chân thật, vô phân biệt chứ không phải trên các văn bản pháp lý.

Chánh Tấn

Tin tức liên quan

Vô thường
08/10/2020
Nhớ vô thường
27/09/2020
Thời gian để tinh cần
23/09/2020
Lời dạy của Tổ
22/09/2020
Văn hóa thần tượng của người Phật tử
20/09/2020