Bài viết

Một nỗi lòng, một tâm sự

Cập nhật: 31/07/2020
Chúng ta thấy rằng mọi người sinh ra trên thế giới này, đều mang trong mình những tâm tư, suy nghĩ, những ước mơ, khát vọng sống và cả những nỗi niềm thầm kín trong sâu thẳm trái tim của họ. Có nhiều người mang trong mình ước mơ cao đẹp. Họ nuôi dưỡng ước mơ đó trong từng ngày, như cây được tưới nước và đầy đủ ánh sáng. Những người đó cho dù đến lúc tử thần nắm tay dắt đi “tay anh trong tay em”, thì những ước mơ của họ không bao giờ vụt tắt, và luôn luôn cháy mãi trong tâm trí họ.
 

Một nỗi lòng, một tâm sự

 

Và đức Thế Tôn cũng vậy. Ngài có ước mơ duy nhất, cao đẹp nhất đó là mong muốn độ hết tất cả chúng sinh ra khỏi khổ đau, phiền não, ra khỏi luân hồi sinh tử. Như người bác sĩ mong muốn bệnh nhân uống thuốc để thoát khỏi bệnh tật, thoát khỏi những đau đớn giày vò do căn bệnh mang lại. Và từ đó, họ đạt được hạnh phúc an lạc chân thật vì trong người họ đã không còn bệnh, không còn những sợi dây kiết sử trói buộc họ nữa rồi.

Chúng ta thấy tất cả mọi người từ thường dân nô bộc đến những vị vua quan, từ trẻ đến già, từ kẻ bần tiện đến những dòng họ thượng lưu, từ những người ngu đến những bậc có trí thức trong xã hội, từ những kẻ ác đến những người hiền lương… đức Phật đã dùng tình thương bình đẳng đến tất cả chúng sinh. Và với trí tuệ, Ngài đã thấy rõ từng căn cơ của họ và thuyết ra những bài pháp phù hợp về sự bố thí, cúng dường, giữ giới, oai nghi… để họ đạt được niềm an vui chân thật. Như người bác sĩ hành nghề lâu năm, biết được bệnh nhân này cần thuốc ho hay sổ mũi, bệnh nhân khác cần thuốc trợ tim hay thuốc bổ… cần chăm sóc trong môi trường cách ly với vi khuẩn hay môi trường nhiệt độ bình thường, còn phải kiêng cử đồ ngọt với bệnh nhân tiểu đường, nước lạnh với bệnh nhân ho… thực hiện đầy đủ những điều đó thì bệnh nhân sẽ hết bệnh. Và cũng như thế, đức Thế Tôn thấy rõ được từng căn cơ của tất cả chúng sinh. Có người thượng căn như Xá-lợi-phất hay Mục-kiền-liên, thì Thế Tôn chỉ nói bài kệ là có thể giác ngộ giải thoát. Còn những người hạ căn Ngài phải nhắc nhở nhiều lần, phải cho đi sám hối nhiều lần, phải giữ giới, oai nghi thiền định trong một thời gian dài mới giác ngộ. Từ đó, ta thấy được đức Phật của chúng ta đại tài như thế nào, thông minh kiệt xuất trí tuệ như thế nào, và là thầy của trời người không ai có thể so sánh được với Ngài. Quả thật, đức Phật rất khó gặp. Lời nói của Ngài (pháp) khó được nghe, vì rất lâu mới có một vị Phật như vậy ra đời.

Chúng ta thường chỉ thấy được những lợi ích, thành quả mà đức Phật mang lại trong kiếp sống này. Nhưng chúng ta không thể thấy được sự gian nan vất vả mà Ngài đã trải qua trước khi thành Phật khó khăn như thế nào. Giống như mọi người hay khen tặng, trao phần thưởng cho anh học trò đã thi và đạt học sinh giỏi quốc gia. Nhưng họ đâu biết được rằng để đạt được thành quả đó, anh ta phải học ngày học đêm, có lúc quên cả ăn, và trải qua một thời gian dài luôn trau dồi kiến thức, thì mới có được thành quả như ngày hôm nay. Và ngày hôm nay, chúng ta chỉ được nghe kể lại cuộc đời đức Phật khi còn làm Bồ-tát qua những trang kinh mỏng. Vài ngàn trang giấy đó, thì làm sao có thể lột tả hết sự nỗ lực siêng năng hết mình không bao giờ bỏ cuộc của Bồ-tát khi hành Ba-la-mật để trở thành Phật. Ví như một người bốc một nắm cát trên tay và nói rằng “đây là hết thảy cát trong sa mạc”, thì lời nói đó là sai rồi. Một số ít ỏi cát trên tay chỉ là tượng trưng cho cát trong sa mạc mà thôi. Cũng như vậy, chỉ một vài trang sách kể về quá trình hành Bồ-tát đạo giống như nắm cát trên tay mà tượng trưng vậy thôi. Và còn cả sa mạc cát về cuộc đời đức Phật khi hành Bồ-tát đạo mà chúng ta không thể biết được. Vậy chúng ta có thấy được đức Phật rất khó xuất hiện ở đời, pháp mà chúng ta nghe hằng ngày rất khó xuất hiện ở đời? Vậy chúng ta có trân quý kính trọng không?

Khi hành Bồ-tát đạo, có những kiếp Ngài bố thí hết tất cả tài sản của mình đến nỗi trắng tay, và bố thí luôn cả đôi mắt cho vị Bà-la-môn để ông ta có thể nhìn thấy được. Có những kiếp Ngài sinh làm voi chúa. Vì lòng từ bi, Ngài dám hy sinh cả thân mạng để cứu giúp đoàn lữ hành đi trên sa mạc đã kiệt sức vì nhiều ngày không ăn uống. Quả thật, đức Phật đã làm những việc mà khó ai làm được. Còn chúng ta thì sao? Khi nhìn thấy mấy em tật nguyền, mồ côi cha mẹ thì chúng ta đã làm gì? Hãy tự trả lời thật lòng. Còn có những kiếp Ngài hành nhẫn nại Ba-la-mật, đến nỗi sẵn sàng để người đời chửi mắng khinh chê. Có kiếp Ngài là vị đạo sĩ tu hạnh nhẫn nại, không một lời kêu la than trách mà còn rải tâm từ đến ông vua đầy lòng sân hận tàn nhẫn, đã chặt đứt tay chân của Ngài. Và còn rất nhiều kiếp khác mà chúng ta nghe đến là lông tóc dựng đứng lên, vì lòng xúc động kinh cảm trước những hành động cao đẹp của vị Bồ-tát mà khó ai trên thế gian này có thể làm được. Để trở thành Phật, vị Bồ-tát của chúng ta đã trải qua một thời gian rất dài không thể tính đếm được. Ví như một cái thùng vuông, đựng đầy hạt mè, có chiều cao, chiều dài, chiều rộng đều là 16 km. Cứ 100 năm là lấy ra một hạt mè, và đến khi nào hết hạt mè trong cái thùng vuông đó là viên mãn hạnh nguyện trở thành một bậc giác ngộ. Nghe đến đây, quả thật chúng ta muốn rơi nước mắt vì thời gian quá dài, xương vị Bồ-tát chất còn cao hơn núi, nước mắt và máu còn nhiều hơn nước trong các đại dương. Và chúng ta chỉ mong muốn nghe được câu trả lời “vì sao Thế Tôn lại làm như vậy?”. Và câu trả lời duy nhất là mong muốn độ hết tất cả chúng sinh thoát ra khỏi đau khổ, phiền não, chặn đứng được bánh xe luân hồi sinh tử. Vì vậy, gặp được một vị Phật, nghe lời dạy của Ngài là một chuyện không dễ chút nào.

“Khó thay được làm người
Khó thay được sống còn
Khó thay nghe diệu pháp
Khó thay Phật ra đời”
.

Vậy mà ngày nay, quả thật đáng buồn khi gặp tượng Phật mà chúng ta không muốn lễ bái; kinh sách thì đặt trong tủ để trưng bày, không dám mở ra đọc; còn gặp chư Tăng thì khỏi phải nói rồi. Họ xem thường: tại sao tôi phải kính lễ mấy ông này trong khi đó con trai tôi có tới ba bằng tiến sĩ? Thật đáng buồn hơn nữa là pháp và luật của Thế Tôn còn đó, mà ít ai học và thực hành theo lời dạy của Ngài. Ví như có chiếc chuông lớn và có cả dùi chuông ở đó, mà ít ai có đủ sức để gõ lên tiếng chuông của từ bi trí tuệ, tiếng chuông của giới luật oai nghi, tiếng chuông của sự chân thật, nhẫn nại… Tất cả điều đó được đức Phật dự đoán trước, rằng sau này các đệ tử của Ta chìm đắm trong ngũ dục lục trần, không còn ai tha thiết học pháp và luật, không còn ai tha thiết chứng Thánh quả, không còn ai tha thiết giữ giới luật oai nghi phép tắc. Tam tạng kinh điển bị mất hết, bị diệt vong, không còn tồn tại trên thế gian này. Lúc đó, chỉ còn một miếng vải nhỏ được gọi là y. Nó được đặt trên bàn thờ, hằng ngày thắp ba cây nhang. Và miếng vải nhỏ đó là biểu tượng duy nhất còn sót lại của Phật giáo mà thôi. Chúng ta không có một nỗi buồn nào hay sao! Chúng ta vô cảm đến mức nhìn chánh pháp bị diệt vong như vậy sao! Không còn cảm thấy Tam Bảo là quý báu hay sao! Chúng ta không còn, không còn quý trọng nữa rồi.

Quả thật một nỗi lòng, một tâm sự…

Tâm Đoàn

Tin tức liên quan

Nhớ vô thường
27/09/2020
Thời gian để tinh cần
23/09/2020
Lời dạy của Tổ
22/09/2020
Phật giáo và bình đẳng giới
21/09/2020
Văn hóa thần tượng của người Phật tử
20/09/2020