Ấn Phẩm Chùa Hoằng Pháp
Kỷ yếu 60 năm Thích Chân Tính

Kỷ yếu 60 năm Thích Chân Tính

Tác giả: Thích Chân Tính
Mục lục
Tâm tình với đệ tử

Hôm nay là ngày lễ tưởng niệm 30 năm Tổ khai sáng chùa Hoằng Pháp viên tịch, các đệ tử đệ tôn thuộc Tông phong Hoằng Pháp đã trở về tổ đình, thành kính dâng nén tâm hương lên Tổ. Đồng thời tối hôm nay, chư Tăng có buổi họp mặt truyền thống, thể hiện tấm lòng tri ân đối với Thầy và Tổ. Thầy cầu nguyện Tam bảo gia hộ cho đại chúng luôn có sức khỏe, trí tuệ và tinh tấn trên con đường tu học Phật pháp.

Người xuất gia được gọi là Tăng bảo vì là bậc tôn quý trong ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng. Đức Phật đã tịch diệt Niết-bàn từ hơn 2600 năm trước, giáo pháp còn đó nhưng phải có hàng hậu học gìn giữ và hành trì, do đó vai trò của Tăng bảo vô cùng quan trọng. Chư Tăng ba đời mười phương “Truyền đăng tục diệm”, nhờ đó mà ngọn đèn chánh pháp sáng mãi cho đến ngày hôm nay. Nếu không có các bậc Tổ sư tiền bối khai sơn phá thạch, kiến lập tự viện, in kinh dịch sách, dày công dạy dỗ các hàng hậu học thì đạo Phật chỉ là một chấm mờ trong lịch sử nhân loại.

Người con Phật có cội nguồn huyết thống và gốc rễ tâm linh. Chúng ta nên vóc thành hình là nhờ vào cha mẹ, ông bà, đó là cội nguồn huyết thống. Đối với người học Phật, nhất là hàng đệ tử xuất gia, ngoài cội nguồn huyết thống còn có gốc rễ tâm linh. Chúng ta phải biết gốc rễ tâm linh của mình, nơi ấy có thầy Tổ, có chư huynh đệ, cùng những mối quan hệ khắn khít trong đạo mà người xưa gọi là tình “Linh sơn cốt nhục”. Người xuất gia có được tăng tướng là nhờ vào thầy Tổ, dù mình đi đến đâu, có nổi tiếng như thế nào, làm trụ trì đạo tràng lớn với đông đúc bổn đạo lui tới hay chỉ đang là học Tăng trú ở một tòng lâm tự viện, khi người ta hỏi đến gốc rễ thầy tổ, mình cũng phải thừa nhận rằng mình là đệ tử của thầy nào và xuất gia ở chùa nào. Anh em có giận hờn Thầy, có buồn phiền đại chúng mà bỏ đi chùa khác, nhưng cái gốc của mình cũng không thể mất được, trừ khi anh em hoàn tục rồi xuất gia với một thầy khác, tại một ngôi chùa khác, còn nếu mang hình tướng xuất gia thì hãy nhớ rằng mình còn là đệ tử của Thầy, được xuất thân từ chùa Hoằng Pháp.

Nghĩ về gốc rễ tâm linh, các đệ tử đệ tôn phải một lòng ghi nhớ công ơn to lớn của Tổ, thể hiện lòng tôn kính đối với Bổn sư. Thầy đã từng tâm sự với anh em, lúc Thầy là chú tiểu, có lúc Hòa thượng cũng rầy la khi mình làm sai, Thầy có buồn nhưng chưa bao giờ dám cãi lại. Mình còn là phàm phu, không thể tránh khỏi chuyện buồn phiền khi bị trách mắng, cũng có những lúc Thầy giận hờn, nhưng chưa từng dám có một lời xúc phạm hay bất kính với Tổ.

Hiếu trung là gốc của mọi phước lành. Người nào giữ được chữ hiếu, chữ trung thì không bao giờ có những lời nói, hành động, ý nghĩ xấu đối với cha mẹ hay thầy Tổ. Chỉ những người bất hiếu, bất trung mới để cho mình có những ý nghĩ, lời nói và hành động phạm thượng. Khi chúng ta đối xử với cha mẹ, thầy Tổ bằng một tấm lòng hiếu kính thì không bao giờ dám suy nghĩ sai quấy, phát ra những lời nói không tốt đẹp, hành động khiếm nhã. Chính thái độ và lối hành xử đó đã tạo nên công đức, bao nhiêu phước lành từ đó sinh ra. Ngược lại, đối với thầy Tổ mà mình có những suy nghĩ, lời nói, hành động thiếu tôn trọng, không cung kính thì sẽ dẫn đến những quả báo không được tốt đẹp ở hiện tại và tương lai.

Chúng ta là người tu Phật phải biết rằng: Bất cứ lời nói, hành động, suy nghĩ gì cũng để lại kết quả của nó. Chúng ta gieo nhân thiện mình hưởng được quả lành, gieo nhân ác thì lãnh chịu quả xấu. Mình đối xử với cha mẹ, thầy Tổ như thế nào thì sau này con của mình, đệ tử của mình cũng sẽ đối xử với mình như thế. Nhân quả chẳng sai chạy đi đâu cả! Cho nên, chúng ta phải luôn hiếu kính đối với thầy Tổ, cha mẹ, tuyệt đối không nên có những điều bất kính với người trên. Có thể đôi lúc mình buồn, mình giận, nhưng đừng bao giờ có những suy nghĩ xấu, vì những suy nghĩ này sẽ dẫn đến những lời nói và hành động không tốt. Một người tuyệt đối hiếu kính, trung thành sẽ không bao giờ dám có ý nghĩ, lời nói và hành động vô lễ. Đó cũng là một hình thức mô phạm, để trong tương lai khi mình làm một người thầy mới là tấm gương cho đệ tử noi theo. Mình là ông thầy mà bất hiếu, bất trung thì làm sao dạy được đệ tử? Là tấm gương cho ai đây?

Những anh em nào ở trong chúng với Thầy phải cố gắng tu học, những thầy lớn ra làm trụ trì càng phải nỗ lực hơn nữa trong việc tu tập hành trì, giữ gìn thân - khẩu - ý cho thanh tịnh, giới luật trang nghiêm. Khi anh em tu tập với Thầy, còn nể sợ, kính Thầy nên không dám nghĩ, không dám nói, không dám làm những điều gì sai quấy. Thế nhưng, khi anh em ra làm trụ trì rất dễ phát sinh phiền não, từ đó tự biến mình thành “hung thần”. Chúng ta thường nghe người ta nói “hung thần trên xa lộ” hơn là “hung thần trong chùa”. Những tài xế được mệnh danh là “hung thần trên xa lộ” vì chạy xe nhanh và ẩu, nên người ta thấy là sợ, phải đi sát vào lề để tránh; còn “hung thần ở chùa” đôi khi chính là các thầy Trụ trì, khó khăn và hung dữ quá nên Phật tử thấy mình cũng tránh xa. Mình tu đáng lẽ làm “từ thần”, tức là người có tâm từ khiến người ta yêu quý, trái lại là “hung thần”, bởi vì mình không biết khiêm hạ, để bản ngã tăng trưởng, cứ nghĩ rằng: “Ta đã là trụ trì”. Nhiều thầy sống như vua một cõi. Khi làm trụ trì, mình xem đệ tử, Phật tử hay những người bên dưới như kẻ phục vụ, những người đầy tớ trong nhà. Từ đó bản ngã lớn dần theo năm tháng.

Thầy có làm một câu mà anh em phải nhớ để tự nhắc mình: “Tu càng lâu, ngã càng cao, đạo càng xa, đọa càng nặng”. Anh em khi ra ngoài hành đạo phải biết quán chiếu lại bản thân, sống bằng tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả, nhìn người khác bằng cặp mắt thương kính, trân trọng, biết ơn, luôn lấy giới luật làm thầy, nhớ nghĩ đến những lời đức Phật và chư Tổ dạy để khép mình vào sự tu tập. Thầy thấy có hai quyển kinh mà chư Tăng phải thường xuyên đọc tụng và nghe giảng, đó là kinh Di Giáo và kinh Tứ Thập Nhị Chương. Còn di huấn của chư Tổ thì có bài Quy Sơn Cảnh Sách của thiền sư Linh Hựu. Đó là những lời dạy rất quý báu nhằm nhắc nhở anh em để tâm vào sự tu tập, bớt vọng động phóng túng ra bên ngoài.

Sở dĩ Thầy làm được nhiều Phật sự là nhờ vào đại chúng, không phải một mình có thể làm tất cả công việc. Những thành tựu như ngày hôm nay là do công sức đóng góp của chư Tăng và Phật tử. Thầy lúc nào cũng biết ơn đại chúng, nhờ tấm lòng nhiệt tâm nhiệt tình phụng sự của đại chúng nên chùa chúng ta mới có thể làm được nhiều công việc có ích như thế. Quý thầy trụ trì các chi nhánh cũng phải luôn tâm niệm một điều là một mình ta chẳng làm được cái gì, đừng bao giờ nghĩ rằng mình làm trụ trì là nhất rồi, từ đó xem những người dưới không ra gì. Cuộc đời là những mối liên hệ tương sinh tương trợ, không có người thì cũng chẳng có mình, không có trò làm sao có thầy, chẳng có ai phụ việc làm sao mình tổ chức được khóa tu hay các ngày lễ. Chính vì thế, mình dù lớn nhưng phải biết ơn những người nhỏ hơn mình, từ những đệ tử xuất gia cho đến các Phật tử công quả, từ người nấu bếp cho đến anh bảo vệ chùa. Ngoài ra, chúng ta còn phải biết quý trọng từng chén cơm, cọng rau cho đến từng nén nhang hay chút tài vật của thí chủ dâng cúng, tất cả đều góp công góp của để duy trì hoạt động của tòng lâm. Đôi khi, người ta trích bớt phần ăn, nhín bớt tiêu dùng để lo cho Tam bảo, mình lãng phí hay tiêu dùng không chừng mực là mang nợ, biết khi nào mới trả hết được.

Trước đây, Thầy ra ngoài miền Bắc vô tình nhìn thấy một vài trường hợp không vui, có thầy Trụ trì đối xử thiếu tế nhị với các Phật tử, thậm chí la rầy những người lớn tuổi đáng là cha mẹ mình. Thầy suy nghĩ về vấn đề này rất nhiều, từ đó làm một câu: “Hãy xem người dưới là ân nhân thay vì đầy tớ”. Đôi khi, anh em cứ nghĩ họ đến chùa để giúp việc cho mình, đó là trách nhiệm hay nghĩa vụ. Nhưng mong rằng sau này anh em suy nghĩ lại, chính họ là ân nhân của mình. Khi mình nghĩ người khác là ân nhân thì tâm cống cao ngã mạn sẽ bớt đi, tâm khiêm hạ được tăng lên. Tại sao có những ngôi chùa Phật tử và chư Tăng quy tụ rất đông, còn những nơi khác người ta không dám đến tu tập, đều do cách hành xử của vị trụ trì và chư Tăng trú xứ nơi đó.

Có lần Thầy đi giảng pháp tại một tỉnh nọ, Hòa thượng trụ trì đón tiếp Thầy rất niềm nở, đích thân ngài ra làm MC giới thiệu khi buổi giảng bắt đầu, Thầy nhìn ngài rất hoan hỷ. Sau khi giảng xong và chuẩn bị ra về, Thầy nghe các Phật tử nói: “Hôm nay chúng con vui quá!”. Thầy hỏi: “Tại sao vui?”. Họ nói: “Hôm nay, không biết vì lý do gì mà thầy của chúng con hoan hỷ quá! Những lần trước đến chùa tụi con sợ lắm. Chuyện gì không vừa ý là ngài la rầy dữ lắm nên chúng con sợ”. Anh em nghe như vậy có suy nghĩ như thế nào? Tự nhiên ông thầy trở thành “hung thần”. Vị thầy này không phải là Đại đức hay Thượng tọa mà đã được tấn phong Hòa thượng. Hòa thượng mà dễ nổi nóng như vậy thì chết rồi!

Thầy có câu nói: “Tu càng lâu, ngã càng cao, đạo càng xa, đọa càng nặng” là có lý do. Anh em cần phải hiểu được điều này để giữ làm sao cho hình ảnh chư Tăng là một tấm gương mô phạm đạo đức: hiền từ, mẫu mực, tôn nghiêm, trí tuệ, được mọi người quý mến, thương yêu, gần gũi. Đừng bao giờ để mình trở thành một “hung thần”. Không ai dám gần gũi vì khi ở cạnh mình người ta cảm thấy sợ hãi, bất an, lo lắng, do bản ngã của mình cao quá. Thầy mong là anh em cố gắng tu tập, đừng đặt mình lên một vị trí cao hơn người, thấy mình quan trọng hơn người, phải ăn trên ngồi trước, tất cả phải cung phụng mình, theo ý mình... Dù biết rằng Phật tử cung kính chư Tăng, nhưng mình cũng phải tôn trọng lại thì họ mới kính phục.

Có những thầy còn rất trẻ, các cụ già đi chùa không phải đáng tuổi cha mẹ mà có khi ngang hàng với ông bà nội, ông bà ngoại mình, vậy mà đôi lúc anh em lại có những lời lẽ không thể hiện sự lễ phép, kính trọng người cao tuổi. Đừng bao giờ đặt mình là vị trí ông thầy, ở trên cao rồi đối xử với người ta như đầy tớ. Ngoài đời, mình chỉ là cháu các ông các bà thôi, nhưng vì mình mặc chiếc áo người tu, mang hình tướng đầu tròn áo vuông nên người ta cung kính.

Bản thân Thầy, đối với những người nhỏ tuổi hơn, đáng tuổi con cháu thì mới gọi là “con”, xưng với người ta là thầy. Nhưng Thầy cũng ít khi gọi Phật tử là “con” vì ngại. Thầy thấy nhiều anh em xuất gia chưa được bao lâu gọi Phật tử ngang tuổi mình là “con” nghe rất kỳ. Mình 30 tuổi, Phật tử cũng 30 tuổi, gọi người ta là “con” hoặc nói “con này, thằng kia”, điều đó không nên. Người tu không nói chuyện kiểu như vậy. Họ đến chùa, cung kính mình là sự lễ phép, lễ nghi trong đạo, nhưng mình cũng phải tôn trọng họ.

Chúng ta phải có cách sống như thế nào để xứng đáng là một người đại diện cho Tăng bảo, vì mình mang hình tướng xuất gia, mặc trên người tấm y giải thoát, đừng để cho các đệ tử hay Phật tử thấy mình khó chịu, khó gần, cảm thấy sợ hãi, e dè khi phải tiếp xúc. Có thầy tu lâu nhưng lại không thể hiện ra lòng từ bi và hỷ xả mà ngày càng nóng tính và chấp chặt, thậm chí là hung dữ.

Đôi lúc, có người thắc mắc không biết vì lý do gì mà một số thầy không độ được đệ tử xuất gia. Có thể vì các thầy nóng tính quá, sân si quá nên không ai ở được. Với tính tình như thế làm sao chư Tăng có thể đến nương tựa mình tu tập? Đó là sự thật. Những thầy nào tu tập tốt, có lòng từ bi, chắc chắn sẽ có đệ tử, Phật tử cũng đến chùa đông. Thầy nào “dữ” quá khiến cho người ta thấy sợ sẽ không ai dám đến chùa. Anh em đều biết rõ việc này, Thầy không nói cá nhân ai, nhưng tình hình chung là như vậy. Cho nên, Thầy mong anh em phải thấy được điều này.

Mục đích tu tập của mình là gì? Người xuất gia mang chí nguyện “Thượng cầu hạ hóa”. Đó là chính yếu. Không phải chúng ta bỏ căn nhà thế tục nho nhỏ để vào đạo lo cho cái nhà chùa lớn hơn, dành cả cuộc đời để xây chùa to, tượng đẹp, mà không còn thiết tha đến chuyện tu hành giải thoát. Chùa chỉ là phương tiện, đôi khi mấy anh em lại đặt cái chùa là cứu cánh, suốt ngày tính toán việc làm chùa. Chính điều đó làm cho mình phiền não, biến mình trở thành một người hết dễ thương. Chạy đôn chạy đáo lo cát đá xi măng, lo sao để có tiền xây dựng… thế là đụng đâu mình phiền não đó, đụng đâu mình sân hận đó, thành ra mình đánh mất lý tưởng tu hành, quên đi mục đích và cứu cánh giải thoát.

Thầy làm gì thì làm, nhưng không bỏ tu. Thầy phát nguyện trong một ngày ít nhất phải có một thời công phu tịnh tọa. Ví dụ, hôm nay bận nhiều công việc nên chưa có buổi công phu nào, nhưng đến 12 giờ đêm Thầy cũng phải thức dậy hành trì. Thầy lấy thời khóa đêm làm thời công phu chính của mình, mười mấy năm nay cố gắng không bỏ ngày nào hết. Thầy nghĩ rằng nếu mình bỏ công phu tu tập là mất tất cả, không còn gì hết. Chúng ta vì ngoại cảnh chi phối nên cứ chạy ra bên ngoài, lo hết việc này đến việc kia, nhưng công việc có bao giờ xong hết được. Lòng tham của con người thì không bao giờ có đáy, tâm tham của người tu rất vi tế nên khó nhận ra. Theo ngày tháng, chúng ta chạy theo danh lợi mà không biết đang đi sai đường. Mỗi ngày, mình có tu thì phải nhìn lại, từ đó mới thấy được cái nào đúng, cái nào sai, cái gì nên làm và cái gì không nên làm. Người xuất gia nói chung và những thầy đi trụ trì nói riêng phải cố gắng tu tập nhiều hơn, giữ tâm khiêm hạ nhiều hơn nữa, làm gì thì làm, đừng để cái ngã chen vào, đừng thể hiện cái ta của mình, cũng đừng chú trọng đến những hình thức bên ngoài mà hãy quan tâm đến nội tâm ta như thế nào, còn nhiều ô nhiễm cấu uế không, tham sân si còn nhiều không?

Có nhiều anh em lúc trước khi sống trong chúng, còn nương tu tập với Thầy thì chê bai Thầy đủ thứ, nói Thầy không tâm lý, không thông cảm, không thấu hiểu cho anh em. Nhưng bây giờ, chính những người đó ra làm trụ trì lại quá tệ, không ai ở được. Huynh đệ chịu không nổi mà Phật tử cũng ngán ngẩm vì quá khó. Mình phải nhìn lại. Tại sao người ta không ở được với mình? Tại sao mọi người nhìn thấy mình là sợ? Anh em đừng bao giờ tự cho mình là đúng, cho mình là hay, lúc nào cũng cho mình là trên hết thì không được, đó là thất bại.

Nói về ngôi chùa, chùa là của ai? Đó là mái nhà chung, do bá gia bá tánh khắp nơi đóng góp. Chùa của thập phương chứ chẳng phải của mình. Chùa Hoằng Pháp này đâu phải của Thầy, mai này Thầy mất đi cũng đâu thể đem theo được. Chùa do Sư Tổ khai sáng, rồi nhờ vào tất cả anh em từ xưa đến giờ đồng tâm hiệp lực gầy dựng, thập phương tín thí hỗ trợ đóng góp để duy trì hoạt động, Thầy có làm cái gì đâu. Sau này Thầy qua đời cũng của người khác lên thay thế, đâu phải mình sống đời mãi để giữ ngôi chùa này được. Điều quan trọng là đời tu của mình để lại cái gì đáng giá cho nhân thế, không phải để lại chùa to Phật lớn, mà để lại gia tài pháp bảo, tài sản trí tuệ, để lại những giá trị đạo đức. Nhờ đó, mình có ra đi nhưng người đời sau vẫn cứ nhắc đến.

Đức Phật dạy không nên thừa tự tài vật, người tu lấy trí tuệ làm sự nghiệp, thừa tự sự nghiệp trí tuệ mới bền vững và xứng đáng. Mình làm chùa cho đẹp, ai động vô cái chùa hay có chuyện gì không vừa ý xảy ra mình lại phiền não. Giống như mình mua một chiếc xe Mercedes mới tinh, đẹp không tỳ vết, người ta chạy lỡ quẹt vào xe làm xuất hiện một đường trầy là tiếc đứt ruột đứt gan. Mình làm chùa to, nhiều người biết đến, Phật tử lui tới tấp nập, nhưng nếu không có sự tu tập thì nguy hiểm vô cùng, khi ra đi mình tiếc lắm, không xả được, có khi chết không nhắm mắt. Tất nhiên, trách nhiệm của người xuất gia là hoằng pháp lợi sinh, muốn làm đạo thì phải có cơ sở, nhưng chúng ta không nên đặt nặng vật chất quá để rồi đánh mất mình, chạy theo danh lợi, xem nặng đồng tiền, tự biến mình thành một “hung thần”, thành người hết dễ thương, không còn là một người đệ tử chân chánh của đức Phật nữa mà chỉ là một ông chủ chùa.

Đừng nghĩ rằng làm là không tu, cũng không phải khi nào làm xong chùa rồi mới tu, hiểu như vậy là sai. Tu là tu ngay trong công việc, tu trong cách ứng xử hằng ngày, tu trong từng khởi tâm động niệm. Thầy thấy nhiều người đi tu thiền, nhập thất niệm Phật hay chuyên tâm theo đuổi một pháp môn nào đó, sau thời gian tinh chuyên tu hành miên mật, đến chừng ra thất đụng chuyện thì tham, sân, si vẫn y nguyên. Đó là tu cái gì, tu hình thức, tu phong trào. Bây giờ, người ta tu theo kiểu biểu diễn thì nhiều, còn thật tu thật học thì ít. Hôm qua, khi Thầy tâm sự với mấy anh em xong, về phòng nghĩ ra câu này:

“Tu tâm sửa tánh ít ai,

Tam thời cúng bái hướng ngoài nhiều hơn”.

Bây giờ, người ta tu tâm sửa tánh thì ít, nhưng hướng ra bên ngoài rất nhiều. Khấn cái này, vái cái kia, cầu cái nọ, xin cái khác. Tu hành như thế là trật hết rồi, đó là đi sai đường, cầu cúng van xin không phải là điều đức Phật dạy. Lập đàn cầu nguyện, siêu thăng bạt độ hình thức giống như đạo Bà La Môn giáo thời đức Phật nhiều hơn. Chúng ta tu mà không học hỏi, tìm hiểu, chiêm nghiệm, không nghiên cứu kinh điển một cách cẩn thận để hành trì thì sẽ không biết mình phải tu cái gì. Anh em thử suy nghĩ xem mình đang tu cái gì? Mình cầu Phật để làm gì? Phật có cho mình được cái gì hay không. Cung vàng điện ngọc ngài xem như đôi dép rách, đã từ bỏ chúng mà đi từ khi chưa thành Phật. Khi thành Phật rồi, Thế Tôn có bao giờ xem tinh xá Trúc Lâm hay Kỳ Viên là của Ngài đâu! Phật cũng không thể xóa hết nghiệp chướng hay phiền não cho mình được. Nếu xóa được thì Ngài đã không bị những “tai nạn lớn” trong cuộc đời hành đạo như Chiến-già vu khống, không bị đệ tử phản bội, không bị nạn đói phải ăn lúa mạch trong một mùa an cư. Chúng ta đọc lại lịch sử thì thấy rõ, đó là những dư báo mà thân ngũ uẩn của đức Phật phải trả quả ác nghiệp trong kiếp chót. Do đó, mỗi người phải tự tu, tự ngộ, tự diệt trừ phiền não và tự bước đi trên lộ trình giải thoát, không ai có thể làm việc đó cho ta được.

Thầy lấy thêm ví dụ, chẳng hạn như hình thức “tam thời hệ niệm” hay “trai đàn chẩn tế”, có những nơi tổ chức linh đình, nhưng chủ yếu là cúng bái và cầu nguyện. Các hình thức này mới nhìn vào sẽ thấy rất hấp dẫn, trang nghiêm pháp hội, nhưng chỉ phù hợp với những ai nặng về đức tin. Thật ra, nhiều khi tụng niệm cũng giống như diễn tuồng cho hay, Phật tử là khán giả xem có ấn tượng, vậy thôi, chứ giác ngộ giải thoát gì trong đó. Tu đâu phải là tụng cho hay, khấn cho giỏi. Đọc kinh đâu phải để cầu cho người được siêu hay cứu vớt người thoát khỏi sinh tử luân hồi. Nhưng người đời lại thích hình thức, muốn có ai cứu rỗi cho mình, thích làm ít mà hưởng nhiều chứ không muốn “tự mình thắp đuốc lên mà đi”. Khuyên học hành nghiên cứu kinh điển thì ai cũng ngán, khuyên tu tâm sửa tánh thì chẳng ai muốn làm. Thỉnh thoảng, có hiện tượng gì lạ xuất hiện, ông Phật nào đó hiển linh hay cái gì phát ra hào quang là người ta xúm lại, không biết để làm cái gì, có lợi ích gì từ những chuyện đó hay không.

Mình là người xuất gia, phải khẳng định lập trường cho vững chắc. Sự tu tập có thành tựu không là do mình, thành Phật hay ma là do mình, hết phiền não hay không là do mình, không phải cầu Phật để cho mình thành Phật. Chư Phật cũng không thể nào tiêu trừ nghiệp chướng cho chúng sanh. Nếu chư Tăng không hiểu rõ những điều này xem như chúng ta mất gốc, sai lầm đi từ căn bản, chánh kiến không có làm sao có được chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp và các chánh còn lại. Người xuất gia là người hướng đạo cho Phật tử, là bậc thầy chỉ đường cho đệ tử tu tập mà chất chứa tà kiến là nguy hiểm, hư từ gốc rễ. Đức Phật sử dụng hình ảnh một người mù dẫn theo một đám mù, cuối cùng cả thầy và trò đều rơi vào hầm hố, cạm bẫy của ma vương.

Đối với quần chúng, đôi khi ban đầu chúng ta phải dùng phương tiện để từ từ đưa họ vào đạo, theo đúng chánh Pháp. Nhưng không phải cứ mãi bám vào phương tiện, để cho người ta hướng ra bên ngoài. Vì đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của đồ chúng mà mình cũng hướng ngoại, theo những điều không đúng gốc rễ của đạo Phật, chấp nhận hình thức mê tín dị đoan để cầu danh chuốc lợi. Chúng ta không phải đi tu vì danh vì lợi, mà vì Phật pháp, vì truyền bá giáo lý uyên nguyên của đức Phật Thích Ca.

Cả đời Thầy chỉ làm sao cho mọi người biết tu, hướng đến chánh pháp. Chúng ta tu không phải để kiếm cho thật nhiều tiền, được nổi tiếng hay quyền cao chức trọng trong giáo hội. Anh em phải thấy được điều đó, mình không vì lợi danh mà mất đi chánh Pháp. Chúng ta dùng hình thức cúng bái nặng nề quá đôi khi là tội chứ không phải phước, bởi vì mình phá kiến chúng sanh, đưa người ta đến chỗ si mê lầm lạc, đi không đúng đường. Danh với lợi chết chẳng ai đem theo được, vậy nên cứ chánh pháp mà hành trì, theo chánh pháp mà tu tập, y cứ vào chánh pháp mà truyền bá, theo hay không theo là tùy họ, đừng bày ra những điều mê tín để lôi kéo, thu hút Phật tử về với mình, từ đó mà trục lợi là không nên. Thầy khuyên như vậy, còn anh em nào không nghe theo thì sau này bị quả báo là chuyện cá nhân. Mình đưa người ta vào con đường mê lầm thì trước sau gì mình cũng dính phải những mê lầm.

Hôm nay nhân ngày giỗ Tổ, anh em các nơi về đây thăm Thầy cúng Tổ là thể hiện tấm lòng tri ân thầy Tổ. Thầy chỉ có đôi lời nhắc nhở, động viên, nghe hay không còn tùy nhận thức mỗi người. Đôi khi, Thầy nói thẳng thì nhiều anh em cũng phiền lòng, nhưng Thầy không thể nào nói khác đi được. Mình biết giáo pháp của Phật là như thế, không nói chánh pháp thì mình nói cái gì. Nhưng chánh pháp giống như mặt trời, soi rọi vào những ngóc ngách tối tăm, đôi khi cũng làm cho người ta chói mắt. Tất nhiên Thầy hiểu, thuốc đắng dã tật, lời thật mất lòng. Anh em buồn giận thì Thầy cũng chịu, nhưng vì trách nhiệm và bổn phận mà Thầy phải nói. Mong rằng anh em cũng hiểu được điều đó rồi thông cảm. Chúc cho đại chúng luôn luôn thân khỏe, tâm an, trí tuệ sáng suốt, tiếp tục việc tu học và hạnh nguyện thượng cầu hạ hóa của mình.

Thượng tọa Thích Chân Tính

Sách cùng thể loại
Đôi nét về chùa Hoằng Pháp
Đôi nét về chùa Hoằng Pháp
Chùa Hoằng Pháp
Lược Truyện Đức Phật Thích Ca
Lược Truyện Đức Phật Thích Ca
Thích Chân Tính
Kỷ Yếu 60 Năm Thích Chân Tính
Kỷ Yếu 60 Năm Thích Chân Tính
Chùa Hoằng Pháp
Đôi nét về chùa Hoằng Pháp
Đôi nét về chùa Hoằng Pháp
Chùa Hoằng Pháp
Hương Pháp 15
Hương Pháp 15
Chùa Hoằng Pháp
Hương Pháp 14
Hương Pháp 14
Chùa Hoằng Pháp